Thứ Ba, 8 tháng 4, 2014

ĐỂ HIỂU RÕ HƠN VÊ MỘT LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐANG ĐƯỢC DƯ LUẬN QUAN TÂM

Luận văn Nhã Thuyên: tiếng nói của một số người trong cuộc

Nguyễn  Hiếu Quân thực hiện
Luận văn Thạc sĩ “Vị trí kẻ bên lề: Thực  hành thơ của nhóm Mở Miệng từ góc nhìn văn hóa” của Đỗ Thị Thoan (dưới đây gọi tắt theo tên phổ biến hơn là Luận văn Nhã Thuyên – LVNT) đang được dư luận quan tâm đặc biệt, nhất là khi Luận văn này được một Hội đồng thẩm định lại và sau đó Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (ĐHSP HN) ra quyết định số 667/QĐ-ĐH SP HN không công nhận Luận văn này.


 Nhận thấy sự kiện LVNT có nhiều vấn đề cần được làm sáng tỏ, chúng tôi đã có cuộc phỏng vấn với một số người trong cuộc, bao gồm: PGS.TS Nguyễn Thị Bình (Khoa Ngữ Văn, ĐHSP HN) – giáo viên hướng dẫn khoa học luận văn; và hai thành viên trong vai trò phản biện thuộc Hội đồng chấm LVNT: PGS.TS Ngô Văn Giá (Đại học Văn hóa HN), TS. Chu Văn Sơn (Khoa Ngữ Văn, ĐHSP HN). Cuộc phỏng vấn này, như độc giả thấy, có thể coi là sự lên tiếng chính thức đầu tiên trước công luận, điều vốn rất được nhiều người chờ đợi, của những người không chỉ liên quan, hiểu rõ LVNT mà còn có tri kiến nhất định về đời sống văn học, văn hóa, giáo dục Việt Nam hiện nay. Chúng tôi trân trọng cảm ơn sự hợp tác chân thành, nghiêm túc của các ông/bà có tên trên và đồng thời, hi vọng độc giả đón nhận bài phỏng vấn này trong tinh thần đối thoại thấu đáo, đẹp đẽ.

            Trước khi theo dõi cuộc phỏng vấn, để có thông tin bao quát, xin được nhắc lại một số diễn biến xoay quanh LVNT:

            – Đỗ Thị Thoan, bút danh Nhã Thuyên, sinh năm 1986, tốt nghiệp Khoa Ngữ Văn – ĐHSP HN năm 2007, học Cao học (Thạc sĩ) chuyên ngành Văn học Việt Nam hiện đại tại Khoa Ngữ Văn – ĐHSP HN khóa 18 (2009 – 2010)

            – Ngày 2/12/2010, Trường ĐHSP HN ra Quyết định số 7460/QĐ – ĐHSP HN về việc thành lập Hội đồng chấm luận văn Thạc sĩ cho học viên Đỗ Thị Thoan. Đề tài: “Vị trí kẻ bên lề: Thực hành thơ của nhóm Mở Miệng từ góc nhìn văn hóa”. Hội đồng chấm gồm:

PGS.TS Nguyễn Văn Long (ĐHSP HN) – Chủ tịch Hội đồng
TS. Chu Văn Sơn (ĐHSP HN): Phản biện
PGS.TS Ngô Văn Giá (ĐH Văn hóa): Phản biện
PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp (Viện văn học): Ủy viên
TS. Nguyễn Văn Phượng (ĐHSP HN): Thư kí

            Tác giả Luận văn đã bảo vệ thành công đề tài, nhận số điểm tuyệt đối (10/10)

            – Tháng 3 năm 2011, Trường ĐHSP HN ra Quyết định số 676/QĐ – ĐHSP HN cấp bằng Thạc sĩ khoa học Ngữ văn cho Đỗ Thị Thoan, số hiệu bằng 7437.

              – Cuối tháng 3/2013, bắt đầu xuất hiện một số bài phê bình gay gắt LVNT trên báo chí, bắt đầu với bài của Chu Giang Nguyễn Văn Lưu trên báo Văn nghệ Tp HCM, tiếp đó là loạt bài có chung giọng điệu xuất hiện trên nhiều báo (giấy) khác nhau (trong bối cảnh báo chí Việt Nam, đó là biểu hiện của chính thống). Cùng thời điểm, cũng có một số bài tỏ tinh thần bảo vệ LVNT, coi việc đả kích LVNT là biểu hiện của sự thiếu tự do học thuật, của phê bình chỉ điểm, phê bình chỉnh huấn. Loạt bài này chủ yếu đăng tải trên diễn đàn mạng. Từ đây đến hết năm 2013, tạm coi là giai đoạn “tranh luận về LVNT”.

              – Ngày 5/3/2014, Trường ĐHSP HN có kết luận và đề nghị của Hội đồng thẩm định luận văn Thạc sĩ Khoa học Ngữ văn của Đỗ Thị Thoan. Hiện “kết luận và đề nghị” này chưa được công bố. Theo nguồn thông tin được đăng tải, Hội đồng thẩm định này bao gồm:

              PGS.TS Đoàn Đức Phương (ĐH KHXH-NV): Chủ tịch Hội đồng
              GS. Đặng Thanh Lê (ĐHSP HN, đã nghỉ hưu)
              PGS.TS Phan Trọng Thưởng (Viện văn học)
              PGS.TS Lê Quang Hưng (ĐHSP HN)
              PGS.TS Phạm Duy Đức (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh)

              – Ngày 11/3/2014, Trường ĐHSP HN ra Quyết định số 667/QĐ – ĐHSP HN về việc không công nhận luận văn Thạc sĩ khoa học Ngữ văn của Đỗ Thị Thoan.

              -  Ngày 14/03/2014, ĐHSP HN ra Quyết định số 708/QĐ – ĐHSP HN về việc thu hồi bằng Thạc sĩ khoa học Ngữ văn của Đỗ Thị Thoan.

              – Ngày 30/03/2014, Nhã Thuyên đã công bố Hồ sơ bảo vệ Luận văn năm 2010 trên internet, blog cá nhân[1]. Đến đây, tạm coi LVNT đã thuộc về tài sản công cộng và sự đánh giá, bình luận sau đó về Luận văn, sự kiện LVNT chắc chắn vượt ra khỏi phạm vi một cá nhân, đơn vị cụ thể.

+ + +

PGS.TS Nguyễn Thị Bình
 – Nguyễn Hiếu Quân (NHQ): Trước tiên xin hỏi PGS.TS  Nguyễn Thị Bình (NTB): xin bà cho biết qui trình thực hiện một luận văn Thạc sĩ ở trường ĐHSP HN trải qua những bước chính nào, từ khi học viên bắt đầu đến khi luận văn được bảo vệ?
 
- NTB: Sau khi phân công người hướng dẫn (thường là gần cuối giai đoạn học viên học các chuyên đề), học viên làm việc với người hướng dẫn để xác định đề tài luận văn, tiến hành các thao tác đầu tiên như làm thư mục tư liệu cần đọc, tìm kiếm và bao quát tư liệu, hình thành đề cương. Tiếp đó đề cương sẽ được thông qua ở Hội đồng bộ môn. Nếu Hội đồng kết luận là đề tài có thể triển khai thì học viên sẽ báo cáo lại với người hướng dẫn các ý kiến đóng góp của Hội đồng, thống nhất phương án chỉnh sửa và triển khai đề tài. Khi văn bản hoàn thành, người hướng dẫn thấy đủ điều kiện đua ra bảo vệ sẽ có văn bản đề nghị với Trưởng Bộ môn. Trưởng Bộ môn lập danh sách Hội đồng chấm Luận văn (gồm 3 thành viên là người của ĐHSPHN, 2 ngoài trường. Trong 2 phản biện, phải có ít nhất 1 người ngoài trường. Tất cả thành viên Hội đồng đều phải có học vị Tiến sĩ trở lên và phải đúng chuyên ngành, hoặc chuyên ngành gần gũi). Danh sách Hội đồng này được Ban chủ nhiệm khoa ký duyệt. Học viên nộp bản lưu luận văn cho thư viện trường, lấy giấy biên nhận của thủ thư rồi qua Phòng Sau đại học hoàn tất thủ tục bảo vệ. Hồ sơ bảo vệ được trình lên Ban giám hiệu, khi có Quyết định của Hiệu trưởng, Hội đồng chấm luận văn mới ấn định thời gian bảo vệ. Quá trình làm thủ tục được quy định là 10 ngày.

            -NHQ: Như vậy luận văn về Mở Miệng đã được một hội đồng duyệt đề tài thông qua. Xin hỏi, trong quá trình thực hiện đề tài về Mở Miệng, bà và học viên có nhận được những phản biện trái chiều nào từ đơn vị đào tạo hay những người có cùng chuyên môn không?

-NTB: Đề tài được cho ban đầu là ¨Hiện tượng bên lề hóa trong thơ Việt đương đại¨. Tại buổi thông qua đề tài, Hội đồng bộ môn ghi nhận tính văn học sử, tính thời sự của đề tài phù hợp với chuyên ngành Văn học Việt Nam hiện đại. Tuy nhiên tên đề tài còn hơi mơ hồ và đối tượng khảo sát quá rộng. Hội đồng góp ý học viên nên xác định rõ hơn hướng tiếp cận và phạm vi khảo sát cũng nên thu hẹp lại cho phù hợp với quy mô một luận văn Thạc sĩ. Sau đó chị Đỗ Thị Thoan và người hướng dẫn đã trao đổi, đi đến thống nhất chỉnh lại theo góp ý của Hội đồng bộ môn và đề tài chính thức là ¨Vị trí kẻ bên lề: Thực hành thơ của nhóm Mở miệng từ góc nhìn văn hóa¨. Khi đưa ra bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn Thạc sĩ do trường ĐHSPHN thành lập vào tháng 12/2010, tác giả luận văn còn nhận được thêm các ý kiến đóng góp của các thành viên Hội đồng, nhưng thời điểm ấy, theo quy định, học viên phải nộp bản luận văn cho thư viện, lấy giấy biên nhận mới được hoàn tất thủ tục bảo vệ nên những ý kiến đóng góp trong buổi bảo vệ sẽ chỉ được tiếp thu tại chỗ chứ không được thể hiện ở bản lưu trên Thư viện trường. Từ năm 2012 trở đi, trường mới điều chỉnh lại quy trình (Học viên bảo vệ xong, chỉnh sửa văn bản theo góp ý của Hội đồng, xin xác nhận rồi mới nộp thư viện).

-NHQ:  Xin hỏi PGS.TS Ngô Văn Giá (NVG) và TS Chu Văn Sơn(CVS): xin hai ông cho biết một cách ngắn gọn việc mình đã tham gia chấm LVNT như thế nào? Hội đồng chấm LVNT mà các ông là thành viên đã thống nhất cho điểm tuyệt đối (10/10). Cá nhân hai ông đã dựa trên những tiêu chí nào để đưa ra số điểm đó?
TS Chu Văn Sơn
 
-NVG: Tôi lâu nay vẫn là cộng tác viên tham gia đào tạo (hướng dẫn và chấm luận văn/luận án)  của hai Bộ môn: Văn học Việt Nam hiện đại và Lý luận văn học thuộc khoa Ngữ văn- ĐHSPHN. Đây là việc làm bình thường và đều đặn trong nhiều năm nay của tôi ở cơ sở đào tạo này. Còn việc tôi cho điểm 10 căn cứ vào 3 yếu tố: chất lượng luận văn, năng lực trình bày/ bảo vệ luận văn, cuối cùng là triển vọng nghiên cứu khoa học của tác giả luận văn.

-CVS: Tôi theo dõi sự trưởng thành của bạn Thoan với cả một quá trình khá dài: từ khi Thoan còn là học sinh giỏi của trường chuyên Nguyễn Trãi (Hải Dương), đến lúc vào khoa Văn này ở bậc học Cử nhân, rồi bậc học Cao học. Theo dõi cả chuyện viết lách của Thoan nữa. Tôi thấy Thoan là trường hợp hiếm, một học viên tài năng, một cây bút đầy triển vọng. Tôi tham gia hội đồng chấm luận văn của Thoan  trong vai trò phản biện. Nội dung phản biện chính của tôi thì đã thể hiện ở bản nhận xét, mà đến nay, nó cũng đã được bạn Thoan công bố trong bộ hồ sơ “bạch hóa” chuyện bảo vệ của bạn ấy. Ở đây, bạn hỏi, tôi chỉ khẳng định lại thôi. Quan điểm của tôi là tôn trọng tự do học thuật. Đối với khoa học chân chính thì không có gì là cấm kị cả. Tất cả mọi vấn đề của đời sống văn học cần phải được nghiên cứu, kể cả hay lẫn dở. Là nghiên cứu khoa học (chứ không phải làm anh tuyên truyền) thì hay cũng cần phải biết hay thế nào, vì sao hay; dở cũng phải biết dở thế nào, vì sao dở. Né tránh là phi khoa học, là trái với sứ mệnh của khoa học. Do đó, tôi thấy nhóm Mở Miệng là hiện tượng rất cần được nghiên cứu. Và, với tinh thần tôn trọng tự do học thuật, tôi ủng hộ việc lựa chọn đối tượng nghiên cứu của bạn Thoan. Còn việc đánh giá một luận văn khoa học trong học đường nói riêng, một công trình khoa học văn học nói chung, tôi nghĩ, đã là một người làm khoa học, một người thầy thực sự, thì không bao giờ được lấy quan điểm riêng của mình ra để áp đặt cho tác giả. Cho nên, dù quan điểm của tác giả công trình chưa chắc đã đồng quan điểm với mình, tôi vẫn tôn trọng, miễn là sự luận giải của tác giả về vấn đề đặt ra là nghiêm túc, có căn cứ, có lí lẽ, có bằng chứng xác đáng. Một hệ thống luận giải nghiêm túc, dù thuộc khuynh hướng nào, cũng thể hiện một cách nhìn, một cách tiếp cận. Khoa học cần nhiều cách nhìn, nhiều cách tiếp cận khác nhau về cùng một đối tượng. Bạn Thoan đã chọn một cách tiếp cận tương đối hiện đại (đối với học thuật ở Việt Nam) và đã luận giải một cách xuất sắc theo hướng tiếp cận ấy. Qua bản luận văn, có thể thấy bạn Thoan đây đó hãy còn cực đoan trong nhãn quan và nhiệt tình, nhưng không thể không thấy bạn ấy là người có bản lĩnh khoa học dám dấn thân vào những vấn đề phức tạp, cập nhật tốt các lí thuyết mới mẻ, sắc sảo trong tư duy, nhất quán trong việc giải quyết vấn đề. Đó là những khía cạnh của một năng lực xuất sắc đối với một học viên. Vì thế, tôi nhất trí với ý kiến chung của toàn thể hội đồng.

            -NHQ: LVNT, thực tế, không phải nghiên cứu đầu tiên về nhóm Mở Miệng[2]. Theo hai ông, đâu là điểm khác biệt cơ bản trong nghiên cứu của Nhã Thuyên và các bài tiểu luận, phê bình này?

            -NVG: Điểm khác biệt nhất ở luận văn này là tác giả đã tiếp cận dựa trên một khung lý thuyết nghiên cứu mới: lý thuyết diễn ngôn mà trong trường hợp này, hạt nhân của nó là những tìm hiểu và cắt nghĩa những yếu tố ngoại quan chi phối/quy định việc hình thành diễn ngôn thơ của nhóm Mở Miệng. Luận văn được tiến hành một cách có hệ thống, tương đối toàn diện về đối tượng nghiên cứu. Trong khi ở các tiểu luận khác, mỗi tác giả lựa chọn một/vài vấn đề mang tính cục bộ của nhóm thơ này.

           – CVS: Có lẽ đây là lần đầu tiên có một công trình đặt ra nghiên cứu về nhómMở Miệng một cách trực diện và toàn diện từ góc nhìn văn hóa theo tinh thần của thuyết Tâm – Biên (Trung tâm – Ngoại biên).

            – NHQ: Như vậy, vấn đề có lẽ ở chỗ: chỉ đến khi Mở Miệng đi vào nhà trường, đi vào nghiên cứu hàn lâm ở bậc sau đại học, thì nó trở nên bị “cấm kị” và gây ra những hệ lụy ngoài khoa học. Có thể coi đây là ví dụ cho thực tế “cấm kị” trong nghiên cứu khoa học xã hội không, thưa Quí vị?

-NVG: Đây mới là điểm “tréo ngoe” trong hoạt động nghiên cứu khoa học ở trường đại học. Đã là nghiên cứu, không nên có chuyện khoanh vùng đối tượng nghiên cứu. Nếu như vậy, hoạt động nghiên cứu sẽ có lỗi và lạc hậu đối với thực tiễn luôn luôn sinh động và phức tạp.

CVS: Thì sự thật đã rõ như ban ngày, gọi là chuyện “cấm kị”, hay là chuyện thiếu tự do học thuật thì cũng thế.

            -NHQ: Thưa PGS.TS Nguyễn Thị Bình, là người trực tiếp hướng dẫn học viên, bà có nhận xét gì về thái độ làm việc cũng như tinh thần khoa học của học viên?

            -NTB: Tôi biết Đỗ Thị Thoan khi chị là sinh viên năm thứ 4 tại khoa Ngữ văn dù trước đó có nghe nhiều đồng nghiệp khen năng lực vượt trội của sinh viên này. Khi tiếp xúc tôi thấy bạn ấy khá hồn nhiên, thậm chí vụng về trong giao tiếp nhưng niềm say mê văn chương, sự sắc sảo trong tư duy học thuật của Thoan mới là phẩm chất nổi bật. Bạn ấy có sức đọc đáng nể, tiếng Anh khá tốt, luôn muốn đi đến cùng một vấn đề nào mà mình quan tâm. Có thể nói Thoan là một trong số những học trò có khả năng làm việc độc lập, có tinh thần khoa học nghiêm túc nhất mà tôi từng hướng dẫn.

            -NHQ: Thưa TS. Chu Văn Sơn, là người dành nhiều năm nghiên cứu thơ Việt Nam hiện đại, cá nhân ông có nhận xét gì về thơ ca của nhóm Mở Miệng? Việc “thực hành thơ” của nhóm Mở Miệng – như cách gọi của Nhã Thuyên, theo ông, có thể đánh giá như thế nào trong bối cảnh văn hóa văn học Việt Nam đương đại? 

            -CVS: Tôi cho rằng một nền văn học bình thường là nền văn học phải tạo được sân chơi cởi mở cho nhiều khuynh hướng sáng tạo, nhiều trường phái, nhiều nhóm sáng tạo cùng nảy nở. Và mọi khuynh hướng, mọi trường phái, mọi nhóm ấy có quyền tồn tại bình đẳng. Còn giá trị mà mỗi khuynh hướng, mỗi nhóm ấy tạo ra hay dở thế nào sẽ tùy thuộc sự đánh giá của công chúng nghệ thuật và sự sàng lọc của thời gian. Vì thế, dù không đánh giá cao nhóm Mở Miệng, nhưng tôi không xem sự xuất hiện của nhóm Mở Miệng trong đời sống văn học là hiện tượng bất thường.

            -NHQ: Nhìn vào những bản nhận xét của các thành viên trong Hội đồng chấm LVNT thì, về cơ bản, LVNT đã được hội đồng chấm cũng như nhiều nhà chuyên môn trong đơn vị đào tạo cho rằng tốt, đủ cơ sở và điều kiện để công nhận học vị Thạc sĩ. Trường ĐHSP đã ra Quyết định cấp bằng Thạc sĩ. Nhưng gần 3  năm sau, LVNT lại bị/được đưa ra bàn luận, xem xét lần nữa. Theo quí vị, đâu là nguyên nhân chính của việc này?  Là những người giảng dạy lâu năm ở đại học, Quí vị đã từng biết có trường hợp luận văn Thạc sĩ nào được “xem xét nguội” như vậy chưa? Đã có nhiều ý kiến cho rằng, LVNT có tư tưởng phản động, phản văn hóa. Từ quan điểm của Quí vị, do đâu lại có nhận xét đó?

            NVG: Bàn chuyện khoa học bằng những chuyện ngoài khoa học là một căn bệnh cũ tưởng đã được thanh toán, nay lại tái phát.
            -CVS: Hiện tượng lập một hội đồng để xem xét lại luận văn thạc sĩ theo như cung cách vừa rồi (bạn gọi là “xem xét nguội”, còn tôi thì gọi là “hội đồng nặc danh”) trong lịch sử Đại học Việt Nam, có thể khẳng định là: xưa nay chưa từng có. Có thể đưa vào mục “Chuyện lạ đó đây” của truyền thông đại chúng. Bạn hỏi do đâu có những qui kết rằng luận văn kia là có “tư tưởng phản động” và “phản văn hóa” à, thì tất nhiên, xét đến cùng, vẫn là do não trạng của người đưa ra nhận xét đó rồi. Cả cái ý kiến về “giải thiêng” nữa, tôi cũng cho là do vậy. Tôi nghĩ, một đầu óc bình thường chứ chưa cần đến đầu óc giáo sư, cũng phải hiểu một sự thật mười mươi: làm sao mà giải thiêng được, nếu đó là thiêng thật. Người ta chỉ có thể giải được cái thiêng giả, thiêng ảo thôi. Cái gì thật sự thiêng tất sẽ tồn tại, bất chấp cả những nỗ lực “tâng hàng” lẫn “dìm hàng” của người đời. Nếu thật thiêng thì sao phải sợ giải nhỉ ?

            -NHQ: Thưa PGS.TS Nguyễn Thị Bình, khi LVNT bị nhận xét như vậy, cá nhân bà và học viên đã có những đối thoại nào về chuyên môn không? Đơn vị đào tạo có tổ chức những thảo luận nào về luận văn này không?

-NTB: Tôi và bạn Thoan đã chờ đợi một cuộc đối thoại dân chủ, cởi mở về học thuật, điều đó có ích không chỉ cho chúng tôi mà cho cả giới nghiên cứu khoa học xã hội-nhân văn. Tiếc là đến nay một diễn đàn như vậy vẫn chưa có. Bạn thấy đấy, báo chí chính thống hầu như chỉ đăng ý kiến phê phán, phủ nhận. Cuộc họp của Hội đồng khoa học khoa Ngữ Văn mở rộng, chỉ mình tôi có mặt với tư cách thành viên Hội đồng khoa học khoa đồng thời là người hướng dẫn luận văn. Theo đề nghị của chủ tọa (Chủ nhiệm khoa), tôi giải trình về quy trình thực hiện luận văn và về quan điểm của tôi đối với đề tài nghiên cứu mà chị Thoan lựa chọn. Ý kiến các nhà khoa học trong Hội đồng mở rộng của khoa được ghi thành biên bản nhưng sau cũng không thấy công bố. Khá nhiều cán bộ của Khoa Ngữ văn đến giờ vẫn không thật sự nắm được sự việc này.

  -NHQ: Trường ĐHSP HN đã ra quyết định thành lập Hội đồng chấm lại LVNT và kết luận của Hội đồng này là cơ sở để trường không công nhận LVNT, tước bằng Thạc sĩ của Nhã Thuyên. Cá nhân Quí vị được thông báo về quyết định này và biết rõ quá trình làm việc của Hội đồng chấm lại này không?
PGS.TS Ngô Văn Giá
:
            -NVG: Chúng tôi hoàn toàn không được biết họ thành lập từ khi nào, và họ làm những gì. Chỉ đến khi chuyện vỡ lở ra, chúng tôi mới biết có chuyện đó.

            – CVS: Tôi cũng thế. Khi dư luận đã cháy rồi, dư luận đã điểm từng mặt thành viên đó rồi, tôi mới biết. 
            – NHQ: Việc không được Hội đồng chấm lại này cho biết những kết luận khoa học của họ, dẫn đến có hai đánh giá hoàn toàn khác biệt về LVNT, khiến Quí vị có suy nghĩ, cảm xúc gì? Cho đến thời điểm này, đánh giá của Quí vị về LVNT có thay đổi nào không?

            -NVG: Đầu tiên là ngạc nhiên, sau lấy làm khó hiểu tại sao họ lại chấp nhận tham gia Hội đồng một cách thiếu cẩn trọng như vậy. Nó không có cơ sở pháp lý để thành lập Hội đồng, theo đó là phủ quyết điểm luận văn và tước bằng thạc sĩ của học viên.

            – CVS: Tôi thì không ngạc nhiên, khi biết các thành viên hội đồng là những ai. Còn, giờ đây, nếu phải đánh giá lại LVNT, tôi vẫn dùng bản nhận xét đã trình hội đồng trước thôi.

            – NHQ: Như vậy, đến thời điểm này, cả hai Hội đồng chấm LVNT vẫn chưa được đối thoại khoa học với nhau. Là những người bị gạt ra ngoài cuộc, Quí vị có ý kiến, đề đạt gì không?

            -NVG: Các thành viên Hội đồng cũ cũng đã gửi đơn kiến nghị lên ông Hiệu trưởng ĐHSPHN để yêu cầu 2 điểm: cho biết cơ sở pháp lý của những việc làm trên đối với học viên, và đề nghị tổ chức cuộc đối thoại giữa hai Hội đồng để đảm bảo tính công khai, dân chủ, minh bạch trong học thuật và đào tạo.

            - NHQ: Xin hỏi Quí vị ở tư cách nhà giáo, nhà nghiên cứu trong nhà trường đại học: Sự kiện LVNT với những kết quả như Quí vị thấy liệu có những ảnh hưởng gì đến tinh thần học tập, nghiên cứu của học viên, đặc biệt là học viên sau đại học, vốn là những người nhất thiết phải bước vào con đường nghiên cứu độc lập? Rất nhiều trí thức đã lên tiếng về “tự do học thuật” ở đại học, Quí vị nhận thấy điều này nên/phải được hiểu và thực hiện như thế nào? 

            -NVG: Về việc này, đáng lo ngại ở chỗ, nếu không được chấn chỉnh kịp thời, nó sẽ thành một tiền lệ rất nguy hiểm trong hoạt động nghiên cứu và đào tạo ở các trường đại học. Nó tạo nên sự hoang mang cho những học viên muốn theo đuổi công việc học tập, nó gây ra tâm lý chán nản, buông xuôi cho đội ngũ giáo viên, đồng thời là các nhà nghiên cứu trong các trường đại học. Nghiên cứu khoa học là một công việc khổ ải, lương các giáo viên đại học đang còn rất thấp. Nếu làm khoa học khổ ải như vậy, đã không được khích lệ, động viên thì chớ, lại còn chuốc những hệ lụy khó lường thì làm sao hy vọng có thể tạo ra niềm hứng khởi cho các nhà nghiên cứu dốc tâm sức cho khoa học được!

            – CVS: Tôi cho rằng sự hô hào về một nền đại học Việt Nam hội nhập và phát triển có thể sánh vai với các nền đại học lớn trên thế giới sẽ là xa vời, nếu cái tối thiểu để thúc đẩy đại học là tự do học thuật không được tôn trọng.

            -NHQThưa PGS.TS Nguyễn Thị Bình, bà được dư luận biết đến nhiều hơn sau khi gửi “Đơn kêu cứu” trên báo Kinh doanh và Pháp luật về việc trường ĐHSP HN ra quyết định cho bà về hưu trước thời hạn mà không rõ lí do. Nhiều người nghĩ rằng đây là hệ lụy do bà đã hướng dẫn LVNT. Bà có suy nghĩ vậy không? Việc “kêu cứu” của bà đang đến đâu và có những hồi đáp nào chưa?

-NTB: Tôi buộc phải gửi đơn kêu cứu đến báo chí sau 4 lần gửi đơn kiến nghị lên lãnh đạo trường ĐHSPHN về việc trường ra quyết định tôi nghỉ hưu sớm gần 5 năm so với Nghị định 141 của Nhà nước và vì ở trường tôi cho tới nay chưa từng có một PGS.TS nào bị đối xử như thế cả. Sau đơn thứ 2 tôi được ông Đăng Xuân Thư, Bí thư Đảng ủy, Phó Hiệu trưởng trả lời miệng rằng lý do tôi phải nghỉ hưu sớm là do việc tôi hướng dẫn luận văn Th.S của Đỗ Thị Thoan làm ảnh hưởng đến uy tín của trường. Tôi không chấp tán thành câu trả lời này và tiếp tục gửi đơn kiến nghị lần 3 rồi lần 4. Quá thời hạn trả lời đơn thư, tôi mới tìm đến báo. Do sự tình cờ, tôi đã gặp và được ông Tổng biên tập báo Kinh doanh và Pháp luật nhận đăng đơn kêu cứu của tôi. Ngay sau khi báo ra, tôi nhận được Thông báo của trường ĐHSPHN do Trưởng phòng Tổ chức cán bộ là PGS.TS Phan Thanh Long kí, nội dung: ¨Hiện tại trường không có nhu cầu gia hạn hợp đồng lao động với bà¨. Đây rõ ràng là hệ lụy từ vụ việc LVNT. Họ thừa biết bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại của tôi đang thiếu cán bộ trầm trọng và khoa Ngữ văn đã có công văn đề nghị trường kéo dài hợp đồng lao động với tôi theo luật định.

            NHQ: Xin trân trọng cảm ơn các Quý vị đã tham gia cuộc phỏng vấn. Chúc các Quý vị dồi dào sức khỏe, vững vàng trong học thuật để góp phần đào tạo những người nghiên cứu trẻ tuổi bước vào con đường khoa học đầy đam mê nhưng cũng không ít những khổ ải này. 
                                                         
 Hà Nội, ngày 6/4/2014
NHQ

ĐỂ HIỂU RÕ HƠN VỀ MỘT CÁI LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐANG ĐƯỢC DƯ LUẬN QUAN TÂM

http://bolapquechoa.blogspot.com/2014/04/luan-van-nha-thuyen-tieng-noi-cua-mot.html?spref=fb

Thứ Bảy, 5 tháng 4, 2014

BÀI LẤY VỀ TỪ TRÊN CÁC TRANG MẠNG _ ĐỌC ĐỂ HIỂU THÊM

Sau khi Học Thế Nào đăng bài Kỳ án Nhã Thuyên, một số bạn đọc mà họ là những nhân vật chứng kiến ít nhiều một số sự kiện liên quan gửi thư tới nhóm biên tập với mong muốn nói lại, nói thêm hoặc bổ sung một số chi tiết mà bài viết đề cập. Học Thế Nào tổng hợp các ý kiến này thành bài viết ngắn dưới đây:
Về sự kiện ngày 27/7/2013
Sau loạt bài phê phán trên báo chính thống, lãnh đạo trường chỉ đạo Ban Chủ nhiệm Khoa Ngữ văn triệu tập họp hội đồng khoa học khoa (mở rộng) chứ không phải hội thảo khoa học như được gọi tên trong bài viết “Kỳ án Nhã Thuyên”. Học Thế Nào xin đính chính lại chi tiết này.
Thành phần mở rộng là các giáo sư đã nghỉ hưu, thêm PGS TS Lê Quang Hưng, Chủ nhiệm Khoa Việt Nam học, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội, tham gia với tư cách phản biện. Không ai ở hội đồng chấm luận văn Nhã Thuyên năm 2010 được mời. PGS TS Nguyễn Thị Bình được mời với tư cách là thành viên hội đồng khoa học của khoa. Tất cả bốn vị Ban Giám hiệu Trường ĐH Sư phạm Hà Nội có mặt.
Tại cuộc họp, PGS TS Nguyễn Thị Bình giải trình ngắn gọn một số nội dung, cụ thể:
1/ Nghiên cứu những hiện tượng của đời sống văn học đương đại là nhiệm vụ của Bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại.
2/ Luận văn được thực hiện đúng quy trình theo những quy định ở thời điểm đó.
3/ Người hướng dẫn làm việc với học viên theo tinh thần đối thoại chứ không áp đặt.
Sau trình bày của PGS TS Nguyễn Thị Bình là phần nêu ý kiến của ba phản biện (tại cuộc này gọi là ¨đọc sâu¨): GS TS Trần Đăng Xuyền, PGS TS Lê Lưu Oanh, PGS TS Lê Quang Hưng.
Sau phần “đọc sâu”, rất nhiều người đã phát biểu sau đó. Có những va chạm được cho là khá gay gắt xung quanh các tiêu chí thẩm mĩ, và cuối cùng vẫn nhất trí ghi vào biên bản kết luận là: đề tài có thể nghiên cứu được, luận văn không có sai phạm về động cơ chính trị…
Khoảng một tuần sau lại có cuộc họp của hội đồng khoa học cấp trường, gồm các giáo sư đương nhiệm và các trưởng đơn vị. Đại diện Khoa Ngữ Văn chỉ có Chủ nhiệm khoa PGS TS Đỗ Hải Phong. GS TS Trần Đăng Xuyền và PGS TS Lê Quang Hưng vẫn là  hai trong số ba vị tham gia với vai trò phản biện. Trong cuộc họp này đã có sự tranh luận gay gắt. Sau khi PGS TS Đỗ Hải Phong đọc kết luận của Hội đồng Khoa học Khoa Ngữ Văn thì có hai luồng ý kiến trái chiều. Một số vị cho rằng chỉ hội đồng chuyên môn mới đủ thẩm quyền phán xét và đề nghị hội đồng khoa học cấp trường tôn trọng các kết luận đã có. Một số vị khác cho rằng luận văn nghiên cứu một đối tượng không xứng đáng và có cái nhìn cực đoan.
Về việc bổ nhiệm Trưởng bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại
Trong cuộc thăm dò ý kiến do Ban Chủ nhiệm Khoa Ngữ văn thực hiện, TS Chu Văn Sơn đạt 8/9 phiếu đồng thuận. Nhưng trường lại ra quyết định bổ nhiệm PGS TS Vũ Thanh (chuyên gia phần Văn học Việt Nam Trung đại, lúc đó là Phó Chủ nhiệm Khoa Ngữ Văn) phụ trách bộ môn dù gặp phải sự phản ứng mạnh mẽ của các cán bộ giảng dạy. Về sau, PGS TS Vũ Thanh cũng từ chối nhiệm vụ này và ngay lập tức xin chuyển cơ quan. Hiện nay PGS TS Vũ Thanh là Phó Viện trưởng Viện Văn học.
Về việc dạy chuyên đề Văn học Việt Nam ở hải ngoại
Xung quanh việc dạy chuyên đề VHVN ở nước ngoài, có những diễn biến khá phức tạp, không hoàn toàn đơn giản như một đôi câu tóm tắt trong bài viết “Kỳ án Nhã Thuyên”.
Cách đây khoảng 5 năm, khi mà GS TS Trần Đăng Xuyền còn là Phó hiệu trưởng Trường ĐH Sư phạm Hà Nội và thầy Lã Nhâm Thìn còn là trưởng Khoa Ngữ Văn, nhà trường tổ chức xây dựng lại chương trình khung theo học chế tín chỉ. Với sự tham vấn của một số giáo sư, chương trình của Khoa Ngữ Văn có thêm  một số chuyên đề, trong đó có chuyên đề Văn học Việt Nam ở nước ngoài. Đến nhiệm kỳ PGS TS Đỗ Việt Hùng làm Chủ nhiệm khoa Ngữ Văn thì chương trình được đưa ra thẩm định ở hội đồng khoa học khoa và hội đồng đã chấp nhận đề xuất này và trình lên Ban Giám hiệu nhà trường. Khoa Ngữ văn giao cho Bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại phụ trách chuyên đề này và năm 2010 là năm đầu tiên thực hiện. Vì thuộc hệ thống chuyên đề tự chọn nên nó được quay vòng 2 năm/lần. Vì thế đến 2012, nó tiếp tục được giảng dạy cho sinh viên. Trưởng Bộ môn là PGS TS Nguyễn Thị Bình đã phân công 3 cán bộ, giảng viên dạy đồng thời ba lớp: TS Nguyễn Phượng, TS Đặng Thu Thuỷ, Th.s Đỗ Thị Thoan. Nội dung và cách thức lên lớp chuyên đề này được thống nhất thực hiện trong nhóm 3 cán bộ, giảng viên này. GS TS Trần Đăng Xuyền tuy là Phó Hiệu trưởng nhưng có thể vì bận công tác lãnh đạo, GS không có điều kiện quan tâm tới hoạt động chuyên môn tại khoa nên không hề biết có việc này.
Sau khi đến tuổi nghỉ quản lý, GS TS Trần Đăng Xuyền tiếp tục giảng dạy tại Bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại, Khoa Ngữ Văn. Khoảng đầu tháng 4/2013, Bộ môn Văn học Việt Nam tổ chức xêmina về chuyên đề Văn học Việt Nam ở hải ngoại. Sau khi TS Nguyễn Phượng đại diện cho nhóm trình bày báo cáo (có sự bổ sung của TS Đặng Thu Thuỷ và Th.s Đỗ Thị Thoan, GS TS Trần Đăng Xuyền bày tỏ sự ngỡ ngàng. GS Trần Đăng Xuyền phản đối, cho rằng không nên quan tâm mảng này. Các cán bộ, giảng viên trong bộ môn giải thích cho GS Trần Đăng Xuyền rằng, học phần này nằm trong chương trình khung do chính Trường ĐH Sư phạm Hà Nội ban hành, nhiệm vụ của Khoa Ngữ Văn hiện giờ là nghiên cứu, giảng dạy tốt học phần đó chứ không còn là lúc bàn bạc chuyện nên hay không nên.
GS Trần Đăng Xuyền cho rằng cho dù chương trình khung là của trường ban hành nhưng việc đề xuất chắc phải là của Bộ môn. Sau đó GS Trần Đăng Xuyền còn chất vấn ai là người đầu tiên nêu ý tưởng? PGS TS Nguyễn Thị Bình khẳng định bản thân bà chưa bao giờ đưa ra đề xuất này, tuy nhiên bà bỏ phiếu ủng hộ khi nó được thảo luận ở hội đồng khoa học của khoa. Và khi được Ban Chủ nhiệm khoa giao nhiệm vụ, bộ môn đã tiến hành tổ chức nghiên cứu và giảng dạy.
Theo lý lẽ của GS Trần Đăng Xuyền, nhiệm vụ cơ bản của Trường ĐH Sư phạm Hà Nội là trường đào tạo nghề nghiệp, theo đó phạm vi nội dung kiến thức được đưa vào giảng dạy ở Khoa Ngữ Văn chỉ nên bó hẹp ở những kiến thức được đưa vào giảng dạy trong trường phổ thông. Tuy nhiên, lý lẽ này không thuyết phục được các cán bộ, giảng viên của bộ môn. Có cán bộ còn dẫn nội dung Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài và cho rằng, việc đưa học phần Văn học Việt Nam ở hải ngoại vào giảng dạy tại Khoa Ngữ Văn Trường ĐH Sư phạm Hà Nội là phù hợp chủ trương của Đảng. Do chỉ là một buổi sinh hoạt chuyên môn nên không có kết luận. Nhiều cán bộ, giảng viên chỉ nghĩ rằng những trao đổi trong buổi sinh hoạt chỉ là những va chạm quan điểm có tính học thuật thông thường nên vẫn tiếp tục tổ chức và thực hiện nhiệm vụ giảng dạy học phần Văn học Việt Nam ở hải ngoại cho sinh viên.
Các ghi chép phía trên của chúng tôi có thể có những sai sót nhỏ ở chi tiết, nhưng đại thể sự việc được chúng tôi ghi lại trung thực theo các thông tin tin cậy có được.
Về các dư luận ngoài lề khác, theo chúng tôi là hơi nặng “thuyết âm mưu”, nhưng cũng xin ghi lại dưới đây.
Theo dư luận ở Khoa Ngữ văn Trường ĐH Sư phạm Hà Nội, những cán bộ phản đối việc dạy học phần Văn học Việt Nam ở hải ngoại nghi ngờ PGS TS Nguyễn Thị Bình chính là người đầu tiên đề xuất đưa học phần này vào chương trình khung; và động cơ của đề xuất nhằm “kéo” Nhã Thuyên về giảng dạy tại khoa. Thậm chí, một số đồn đoán thỉnh thoảng còn được “tung” ra trong dư luận ở khoa, rằng rằng PGS TS Nguyễn Thị Bình và Nhã Thuyên có “quan hệ mờ ám” với người nước ngoài.
 Đường link dẫn tới Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài:
 Học Thế Nào.
Tagged as: 

12 phản hồi »

  1. Cương lĩnh Đãng : Trí phú địa hào , đào tận gốc trốc tận rễ …. huhuhu
    HTN: Bác cứ viết sai chính tả thế này, chắc phải chặn nick bác mấy hôm thôi.
  2. Xin phép chép về blog của mình ngay, đề phòng sự cố.
  3. Em góp ý tí ạ! Ông Trần Đăng Xuyền vì lí do nào đó đã đổi tên thành Trần Đăng Suyền từ hơn chục năm nay rồi ạ! Về chuyện bầy hầy ông ấy bày ra thì lâu nay có câu hát: “Đường vinh quang xây xác bạn bè” ạ!
  4. Ông Xuyền /Suyền này có viết cuốn “Nhà văn hiện thực đời sống và cá tính sáng tạo” nhưng đọc vào thì chẳng thấy “cá tính sáng tạo” đâu cả. Hèn gì mà thấy Nhã Thuyên sáng tạo ông ta đã hoảng lên. Hôm nay biết được ông ta làm đến Phó hiệu trưởng trường đào tạo giáo viên ở thủ đô nữa. Ôi chao “đường vinh quang xây xác bạn bè” nếu đúng như vậy thì kinh khủng quá. Dân văn chương, dân nghiên cứu khoa học mà như thế sao giáo sư Suyền/Xuyền ơi? Nhã Thuyên suy cho cùng là học trò ông thôi mà. Ở đây không nói chuyện tình cảm vấn đề là hình như ở xứ này “mấy cụ” không hiểu hay cố tình không chịu hiểu 1 điều rất đớn giản là “Trò mà hiểu biết hơn Thầy thì đó là Đại Phước của quốc gia”. Mấy cụ cứ hô hào đổi mới giáo dục nhưng tư duy của mấy cụ thì nó cổ hủ không chịu được. Lại thêm nếu biết mình thua kém người khác về tài năng thì bắt đầu giở trò “chính chị chính em”. Cho nên cuối cùng Tài không có mà Đức cũng chẳng thấy đâu. Vậy nhưng không hiểu sao vẫn cứ lên làm lãnh đạo. Suy cho cùng bi kịch của đất nước Việt, dân tộc Việt mấy mươi năm qua (dự báo còn kéo dài nữa) là ở chỗ này.
    HTN: Dù thế nào đi chăng nữa, mong quý vị hạn chế tối đa đả kích cá nhân!
    • Bi kịch của đất nước Việt, dân tộc Việt là họ không chịu chơi thể thao, bác Rất là buồn ạ, mà họ chỉ thích dùng tiền ấy để xây bệnh viện thôi. Tất nhiên là ngồi ì một chỗ hoài nó sinh bệnh ra chứ sao, cho nên có xây thêm bệnh viện bao nhiêu cũng không đủ !
  5. Theo dõi vụ ” kỳ án Nhã Thuyên” này, tôi thấy chưa hẳn các thầy ở trường ĐHSP I Hà Nội đã là người chủ trương việc ” diệt” Nhã Thuyên hay PGS-TS Nguyễn Thị Bình mà chỉ bị sức ép buộc phải làm vậy thôi.Dù sao thì làm như thế cũng là không phải, nếu không nói là hèn, nhất là ở thời điểm năm 2013-2014 chứ không phải những năm cuối thập kỷ 5- hoặc 70 thế kỷ trước!Còn, nếu các vị trong Hội đồng khoa học của Trường mà có văn bản đánh giá luận văn của NT theo ý của ai đó ( không trên tinh thần học thuật) thì đáng phải xem lại về nhân cách.
    Cá nhân tôi rất đồng tình với ý kiến giải trình của PGS-TS Nguyễn Thị Bình và PGS-TS Ngô Văn Giá. Nhóm ” Mở miệng” là một hiện tượng văn học đương đại, cho dù những sản phẩm thơ (tôi dùng chữ “sản phẩm” chứ không gọi là ” tác phẩm” là thể hiện ý cá nhân coi thường loại thơ này cũng như thứ thơ ” hậu hiện đại” tắc tỵ, nhố nhăng nhân danh cái gọi là ” cách tân” thơ của vô số tác giả hữu danh khác) của nhóm này không có bao nhiêu giá trị thì nó cũng là một thực tế khách quan đã và đang tồn tại, phản ánh tâm trạng bế tắc, muốn ” nổi loạn” của một bộ phận người trong xã hội hiện nay. Do vậy, nghiên cứu về hiện tượng văn học này là cần thiết ( khen hay chê, đồng tình, ủng hộ hay phản bác lại là chuyện khác). Đối với một người trẻ, mới bước vào đời, vào nghề như NT lại càng đáng biểu dương vì đã dám dũng cảm đột phá vào một cái mới chứ không đi theo lối mòn. Nếu muốn “an toàn” để lấy một cái bằng thạc sĩ cho đủ chuẩn làm giảng viên, NT hoàn toàn có thể chọn đại một trong số tác giả nào đó đang là hội viên HNV VN hiện nay để làm luận văn, cho dù thơ của vị đó không hơn thơ của một CLB thơ cấp phường, xã.
    Ai nói NT nghiên cứu về một đối tượng không xứng đáng thì cứ thử lục “kho” luận văn tiến sĩ của ta xem có bao nhiêu luận văn vô bổ? Tôi dám chắc nếu công bố công khai các luận văn tiến sĩ thuộc các lĩnh vực văn học, sử học, kinh tế-chính trị học, luật học, hành chính, an ninh-quốc phòng…thì vô số người sẽ đứt ruột vì chết…cười! Cái nạn ” tiến sĩ giấy” mà cả xã hội đang lên án là một thực tế không thể chối cãi. Những GS-TS ấy nếu là người còn chút tự trọng chắc sẽ rất xấu hổ trước NT!
    Chỉ có điều đáng tiếc là các thầy trong Hội đồng chẩm luận văn đã cho NT điểm 10 sao bây giờ không dám lên tiếng bảo vệ quan điểm của mình (trừ PGS-TS VG). Im lặng trong trường hợp này không phải là cách hành xử đúng đâu ạ!
    P/S: Không biết trong vô vàn luận văn thạc sĩ, tiến sĩ văn học đã bảo vệ thành công hoặc đang được thực hiện, có luạn văn nào nghiên cứu về hiện tượng nảy nở như nấm mùa xuân của các cụ về hưu ở các CLB thơ phường, xã, của anh chàng buôn thơ mà vừa rồi ồn ĩ dư luận hay cái CLB Thơ Việt Nam của ông Bành Thông từng hiên ngang tiến hành đại hội ở Hội trường Ba Đình? Cũng đáng nghiên cứu đấy chứ!
    • Đến thời điểm này tôi gần như sắp “ngộ” về kì án NT này, và đã tìm đọc cả LV (nghĩa là đọc được kha khá tác phẩm của Mở Miệng), cả các bài phê bình tiêu diệt nó, bảo vệ nó và thậm chí cả những bản nhận xét của hội đồng phản biện 1 (đã cho chị điểm 10). Nếu chưa đọc những thứ này thì ý kiến cá nhân dễ bề trở nên võ đoán.
      Cái đối tượng nghiên cứu của chị NT bị các nhà phê bình chỉ trích chủ yếu ở 2 khía cạnh:
      - Thơ của nhóm Mở Miệng là thơ để làm chính trị, mang hơi hướng chống đối: chẳng hạn giải thiêng hình tượng Bác Hồ, chống đối chế độ XHCN, chấm ba chấm.
      - Là thơ rác, thơ nghĩa địa…khi dùng quá nhiều từ có tính chất tục tĩu quá đáng, gây phản cảm…
      Anh cho rằng LV của chị nghiên cứu đối tượng xứng đáng thì anh thử phản biện lại 2 luận điểm đó xem ạ?
      • Vấn đề không phải ở LV cô NT mà ở cách hành xử xã hội, cụ thể là của trường SP1.
  6. Tôi đã mất 2 buổi chiều để đọc tất cả những nội dung liên quan đến “Kỳ án Nhã Thuyên”. Tôi không phải là người thích viết những cảm xúc sau mỗi bài viết, nhưng vì vấn đề này hấp dẫn tôi và làm tôi đau đáu về nó nên tôi muốn chia sẻ một số ý kiến như sau:
    1) Về nhóm “Mở Miệng”
    Cứ tạm xem những gì mà nhóm mở miệng xuất bản là “thơ” thì trong thơ của họ có rất nhiều từ tục. Lúc mới đọc tôi thấy “ghê ghê”, nhưng tôi lại bị nó lôi cuốn đọc cho hết bài. Bởi chính tôi, từ khi biết nói, tôi không bao giờ nói ra (viết ra) những từ đó và tôi dường như không thể nói. Khi đọc những phỏng vấn của Nhã Thuyên với nhóm, tôi thấy họ trao đổi rất thật, rất nghiêm túc về nghệ thuật và đam mê và họ theo đuổi, có lẽ họ chỉ sử dụng chúng khi “làm thơ” và họ xem những từ đó là tột cùng của cảm xúc. Bây giờ lại tôi không còn thấy ghê khi đọc chúng, nhưng nói ra các từ tục đó … thì tôi vẫn không thể.
    2) Về Nhã Thuyên
    Trước tiên là tôi rất phục cô ấy, vì một người con gái “thông thường” thì họ rất ngại (thường là không) nói về các vấn đề nhạy cảm đó, cô ấy có cá tính rất mạnh. Cô ấy muốn “cảm” cuộc sống từ nhiều nguồn và không theo một khuôn khổ mà “người ta” quy định (là nữ thì không được nghĩ như thế, nói như thế; làm thơ, đọc thơ là không được chọn những đề tài như thế….) Có thể nói cô ấy đang “cháy” trong cuộc sống.
    3) Hành xử của một số GS
    Thật ra, nếu chúng ta cảm thấy luận văn bàn về vấn đề nhạy cảm, không phù hợp với “văn chương” không phù hợp “khoa học” thì có thể yêu cầu rút khỏi thư viện của trường, nhưng phải cho nó tự do như một chính kiến khoa học để mọi người có quyền tự do ngôn luận. Luận văn này tự bản thân nó chẳng làm hại ai, chẳng làm hại nền văn học nào, cũng chẳng làm hại nền chính trị nào. Chỉ khi ta cho nó là như thế thì nó sẽ trở nên không là nó nữa. Còn bản thân người dạy đã có sự kiểm định của Sinh viên, của Khoa, của trường, khi nào có đơn tố cáo thì hãy điều tra và hành xử (..)
    4) Cô ấy xứng đáng đứng trên bục giảng, nhưng tôi vẫn xin cô ấy đừng đem luận văn mình đi dạy. Hãy nói những gì cô ấy thích nói ở đâu cũng được (trừ bục giảng). Vì tôi vẫn mang một ý niệm là “không phải điều nào cũng nói được bất cứ đâu”.
    • Đồng ý với anh ở các điểm trên, vì bản thân tôi vẫn quan niệm những gì thuộc về giáo dục nói riêng và văn học nói chung thì vẫn phải có những chuẩn mực nhất định. Rõ ràng NT là một người nghiên cứu văn học có tiềm năng, tâm huyết và có năng lực lý luận (tôi đang đọc luận văn của chị). Tôi chỉ băn khoăn cái quy trình: đề cương luận văn của chị ắt phải được thông qua trước khi chị bắt tay vào làm LV, tức là đề tài đã được duyệt, chị thậm chí đã được hội đồng chấm điểm 10 và nhờ đó trở thành giảng viên của khoa, vậy mà chỉ một số ý kiến phê bình của một số học giả trên báo chí đã đủ (?) tạo sức ép để một trường ĐH uy tín quay ngoắt 180 độ những quyết định trên. Thật khó hiểu, và tôi tự hỏi: LV của chị hay scandal về nghiên cứu học thuật trên sẽ ảnh hưởng đến tâm lý và tư duy của người làm khoa học về sau hơn?
      • “vậy mà chỉ một số ý kiến phê bình của một số học giả trên báo chí đã đủ (?) tạo sức ép để một trường ĐH uy tín quay ngoắt 180 độ những quyết định trên”
        Không phải chỉ là một số ý kiến phê bình đâu chị à, mà có lẽ có sự can thiệp sâu của một số cơ quan chức năng. Biết rằng với Nhã Thuyên và một số người liên quan đây là một bài học, nhưng học phí quá đắt. Tôi cũng học được một điều qua vấn đề này là: “Điều gì mà ta nói nhiều về nó quá cũng không hay”. Có lẽ là Nhã Thuyên tâm đắc về LV của mình mà nói nhiều về nó chăng?