Thứ Hai, 20 tháng 1, 2014

NGƯỜI ĐẸP VÌ LỤA



                                                 Tản văn: PHAN MAI HƯƠNG
 Ngay từ hồi mới biết mặt chữ, đã thuộc lòng câu “ người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân”.  Còn nhớ rõ là đọc câu tục ngữ ấy trong bài tập đọc của sách giáo khoa lớp Ba. Nhưng thực ra  chỉ nhớ về đằng trước thôi, vì gợi ra một hình ảnh đẹp rạng rỡ đầy cuốn hút, đủ tô vẽ cho một ước mơ, đủ nhen nhóm niềm khát khao bé bỏng theo đuổi suốt những năm tháng ấu thơ .
 Đấy là những  áo xiêm váy vóc lụa là  rực rỡ mà một năm đôi lần, hiếm hoi lắm thì đám trẻ con lứa 6x,7x chúng tôi mới  có dịp nhìn thấy trên sân khấu, với những  “ Quan Âm Thị Kính”, “ Ai mua hành tôi”, “ Xúy Vân Giả Dại” của đoàn chèo Hà Tây, đoàn cải lương Chuông Vàng, nhà hát tuồng Trung Ương, khi họ  về tỉnh miền núi lưu diễn, mà  nhiều nhất chỉ  là ba đêm.
Lũ trẻ con ngày ấy  như là chìm trong mê  mẩn khi  ngắm những cô diễn viên đẹp như tiên sa, trong những áo váy  lụa là với  những tầng sắc màu rực rỡ như những lớp cánh bảy màu của con cào cào mỗi khi xòe cánh bay. Tâm hồn thơ ngây trẻ con mải miết mê tơi đi theo nàng Thị Mầu tung tẩy trên sân chùa. Lẽ dĩ nhiên là chả đứa nào  thích  nàng Thị Kính mấy đâu,  vì  lúc nào cũng thầy  nàng ấy chỉ khoác một  bộ nâu sồng tối om om. Nhưng cũng  thầm cảm thấy thương và ghen hộ nàng  Thị Kính xinh  là thế mà  không được mặc váy áo đẹp như nàng Thị Màu. Nhưng có một  điều chắc chắn là sau những buổi xem diễn kịch trong “ nhà hát” đất nện ở sân vận động, thì  tâm hồn được thỏa thuê bay bổng trong những giấc mơ trẻ thơ.  Nào là mơ  được như nàng Thị Màu xiêm áo lượt là. Rồi  mơ được như là  nàng Xúy Vân có hoa rực rỡ cài đầu trong ngày cô dâu vu quy. Rồi  mơ được như người vợ xinh xắn, lam làm của  anh nông dân bỗng dưng thành  hoàng hậu, có  kẻ hầu người hạ, và  xống áo xênh xang. Ôi! Những giấc mơ đi qua suốt thời ấu thơ, như nhắc nhở một thời gian khó, và chạm đến hiện tại vẫn còn nhiều nỗi âu lo.
Dân gian có câu câu cửa miệng  “ cơm áo gạo tiền”, và mới thấy  nối lo  “áo” chỉ đứng sau có nỗi lo “cơm” thôi. Phải chăng ở một đất nước nông nghiệp, thì nỗi lo cái ăn và cái mặc luôn đè nặng lên kiếp người ? Cuộc sống vốn là vậy, ăn no mặc ấm luôn là tiêu chí đầu tiên  để phấn đấu, sau đó  mới đến ăn ngon mặc đẹp. Nhưng chả biết sao, trong trí óc non nớt ngây thơ của cô bé con thuở ấy thì chỉ nghĩ đến “ người đẹp vì lụa…” mà thôi. Năm tháng trôi nhanh như chớp mắt,  nhưng đời người vẫn không nguôi vơi cạn giấc mơ lụa là.
Phải nói là giấc mơ lụa là đã găm sâu vào trí nhớ đi theo suốt tháng năm của đời người để không nguôi nơi chốn của bậc sinh thành. Có một  cô bé thành phố chỉ mong có dịp nghỉ học để háo hức  về quê, để được nhìn thấy  các bác gái, các dì, các chị con nhà bác, mặc váy áo thướt tha nom rõ đẹp.  Cô bé thấy ở thành phố chỉ có em bé mới mặc váy, nếu lớn hơn chút mà vẫn diện trang phục váy thì bị coi là “ trẻ con”.
Nhưng ở quê thì khác hẳn luôn. Hình ảnh   bộ váy Mường đen nhánh thướt tha cùng chiếc cạp váy thêu chỉ màu rực rỡ luôn là chiếc cầu vồng kỳ ảo nối liền những hoài niệm thân thương.  Cô bé con như bị  mê đi khi  ngắm những  chiếc cạp váy với những sắc màu nổi bần bật, được thêu  bằng tay với những họa tiết tỉ mỉ cầu kỳ, như  đang bay tung tăng trên vầng ngực thanh tân của các chị con nhà bác . Và nàng hoa hậu đầu tiên xuất hiện trong tâm hồn bé thơ lại không ai khác chính là nhân vật  Nàng Ún trong  cuốn tiểu thuyết “ Hoa hậu xứ Mường” của nhà văn Phượng Vũ. Vì trí tưởng tượng trẻ thơ thật dễ để vẽ ra hình ảnh nàng Ún nhà Lang xinh tươi và  vô cùng cầu kì,  đang  kén chọn từng chiếc cạp váy.
 Này là  cạp váy thêu hình  Rồng quý phái đài các, như làm đẹp hơn bội phần cho nàng  công chúa mày ngài mắt phượng đang e ấp đợi chờ ý trung nhân nơi gác tía lầu xanh.
Này là hình thêu đàn Hươu rất dễ để hình dung ra nét tung tăng trẻ trung, mơn mởn của hoa cỏ mùa xuân, tươi tắn như tâm hồn  lãng đãng mộng mơ,  dễ quên dễ nhớ của  nàng sơn nữ đang yêu.
Này là  hình thêu đàn chim Lạc đang sải cánh miết mải bay về phương trời xa xăm nào đó, như tâm hồn thiếu nữ  đang cảm thấy sự chật chội, đang ngóng chờ những chuyến đi, như cháy niềm mong  được thấy bao nhiêu điều kỳ diệu còn khuất lấp sau những dãy núi xa xanh.
Này là hình thêu Hoa Lá tự do tung tấy, không theo một khuôn mẫu nào. Dường như  có tất cả những  hoa lá  đang vươn cao và muốn bay xa; có  suối sông với  những mơn trớn dịu dàng lẫn  những  ào ạt thác lũ; có núi thẳm lẫn  rừng xanh đanng cất lên hơi thở thì thầm đầy quyến rũ mải mê. Tất cả đều như đang hội tụ về nơi mơn mởn đào nguyên.
Này là hình thêu đàn Cá thoải mái vui tươi bơi lượn trong dòng nước xanh mát rượi, và  nước kia mềm mại hơn cả dải lụa đang dâng lên, dâng lên  để che khuất dần nụ hoa thanh tân mỗi khi Nàng Ún tắm suối theo kiểu sơn nữ là  nhẹ nhàng cuốn váy đến đâu thì thong thả buông mình chìm dần, chìm dần trong làn nước xanh đến đó. Dường như đến bây giờ, khi nhớ lại những khoảnh khắc ấy, cô bé ngày xưa  vẫn còn nguyên cảm giác xấu hổ làm sao khi đi tắm suối cùng các chị con nhà bác  mà cứ phải  nhúng nguyên cả bộ quần áo mặc trên người xuống suối, chả giống như  các chị gì cả.  Lúc ấy, trong tâm trạng cô bé con, nỗi ước mong cháy bỏng có được bộ váy Mường mới mãnh liệt làm sao? Và  phải thừa nhận rằng nỗi ước mong ấy đã, và có lẽ sẽ đeo theo ám ảnh  suốt thời gian rộng dài của đời người. Lắm khi tự cười một mình vì cô bé ngày xưa ấy sắp trở  thành bà nội bà ngoại rồi mà vẫn còn nguyên niềm mong bé bỏng trẻ thơ.
 Cô bé ấy có thể ngồi hàng buổi không biết chán, chỉ để   lục lọi đống váy áo của Bác Dâu để  tỉ mẩn xem từng hình thêu trên cạp váy với  những con thú đang nhảy múa, những con  chim  bay lượn, để mà mơ mộng đến một chân trời xa xăm, để bay nhảy thỏa thuê trong những khát khao. Sau này, khi đã nhớn nhao hơn một  chút mới hỏi mẹ về những kỳ diệu nắm sau những  hình thêu trên cạp váy.
Cứ theo như lời kể của mẹ thì thứ quan  trọng và  được điểm  trang cầu kỳ nhất trên bộ váy Mường chính là tấm cạp váy. Để có một tấm cạp váy phải bỏ ra rất nhiều công sức. Đầu tiên là phát nương trồng bông. Nhưng mảnh nương dể trồng bông thường là những mảnh đất đồi có diện tích không lớn lắm, vì những nương rộng lớn thì dùng để trồng lúa, ngô và cây hoa màu khác. Vị trí nương bông thường là giáp đường đi, len trong khe suối, chen trong vườn cây bương. Nương bông có thể ở rất gần nhà, nhưng có khi lại ở xa hàng giờ đi đường. Tạm hiểu trồng cây bông như là cách tận dụng đất cho khỏi lãng phí.
Nương  bông còn như một biểu hiện về sự chăm chỉ lam làm của những người con gái trong gia đình, đồng thời lại như một cách để các cô gái có điều kiện cùng nhau chuyện trò đủ thứ chuyện trên trời dưới đất một cách  dễ dàng.Thời gian chăm sóc cho nương bông là khi việc đồng áng cấy hái đã xong, hạt lúa hạt ngô cũng đã được gieo nằm  yên vị trên nương xa. Mẹ thích thú nhắc lại kỷ niệm một lần  đi làm cỏ bông vào kỳ sau Tết Nguyên Đán, hí hửng mang cơm nắm và thịt lợn còn lại từ hồi Tết cùng ăn trưa ( chứ bình thường chỉ có muối vừng thôi), mà không biết cô bạn bị dị ứng với thịt lợn, chỉ trong nháy mắt cả mặt mũi tay chân cô bạn bị đỏ ửng, sưng tấy lên làm cho  mẹ sợ khiếp vía vì lo lắng. Lại có lần đi hái bông vào mùa hè, mẹ bị ong vàng  đốt, sưng lên từng cục trên trán, trên đầu. Loại ong này  có cái bụng thon, thắt eo lưng cong veo và khi đốt kẻ thù thì phần đuôi chổng vộc nhọn hoắt. Loài ong này làm tổ bằng bùn trộn phân trâu, thường chỉ  to bằng cái bát ăn cơm, khuất lấp sau những bụi cây rối ren, nên rất khó nhìn thấy. Mình cũng đã từng bị ong vàng đốt nên đã  biết cảm giác đau tê  buốt như nào  rồi.
 Mẹ nói chăm sóc nương bông và hái bông vẫn là việc không thể thiếu trong công việc đồng áng nương rấy. Và sự nết na của người con gái thường được nhìn qua việc trồng và thu hoạch bông, se sợi dệt vải. Mẹ kể  đám con gái ở làng thường chung nhau trồng một nương bông, cùng nhau đi làm cỏ và hái bông; cùng nhau tập trung ở nhà nào đó để  se sợi, nhuộm chỉ màu, trong đó việc nhuộm chỉ để dệt cạp váy là kỳ công nhất. Chỉ  màu  thường được nhuộm bằng lá cây rừng pha trộn với phẩm màu thế nào đó, là bí quyết riêng của bà ngoại, mà  mẹ vẫn chưa kịp học. Chỉ có điều từng sắc màu mảnh mai làm nên những bức tranh rực rỡ trên mỗi tấm cạp váy luôn là thứ hấp dẫn diệu kỳ, nên con gái lại càng muốn vạch ra từng sợi chỉ để mong  tìm tòi cái bí ẩn nằm trong tấm thổ cẩm.
 Ngày cưới của cô gái Mường, cái sự  giàu hay nghèo không quan trọng bằng việc các bậc trưởng lão  “ săm soi” xem cô gái mang về nhà chồng bao nhiêu chăn gối tự dệt? Vì đó  như là một bằng chứng  xác thực nhất cho cái nết na đảm đang, vén khéo giỏi giang, mà bà mối đã dày công giới thiệu với nhà trai từ trước  đám cưới. Con gái thích thú trêu mẹ, lấy chồng thành phố là thoát nạn  may chăn  dệt gối còn gì?  Mẹ cốc đầu con gái  mắng yêu lười kim chỉ như này, sau có gia đình, áo chồng con rách ai vá cho?
Hồi nhỏ, công việc ở nhà của  mẹ là xay giã gạo.  Con gái cứ xoắn lên thắc mắc sao mẹ không làm công việc  dệt vải, mà cứ phải là bác Ba ( chị gái của mẹ) dệt? chẳng nhẽ bác í dệt đẹp còn mẹ thì không à? Mà sao  bác Ba cũng chỉ dệt vải khi đã làm hết mọi việc vặt trong nhà? Thế cái việc dệt vải may váy áo đẹp lại không quan trọng à? Trong hình dung ngây thơ của con gái thì mẹ nhất định phải là  cô tiên mang nhiều phép màu, vừa xinh đẹp lại vừa chăm chỉ giỏi giang. Và con gái lại càng nhất định muốn người làm ra những tấm cạp váy rực rỡ sắc màu kia lại phải chính là mẹ cơ. Để con gái còn thêu dệt cho  hoàn thiện câu chuyện cổ tích ngày xưa về chiếc cạp váy thổ cẩm diệu kỳ, làm mê mẩn bao nhiêu lòng yêu cái Đẹp, mà  trong thế giới thời trang ngày nay có tìm đỏ mắt cũng không thể  có được.
 Thì vẫn là chuyện về chiếc cạp váy mà cô  bé ngày xưa  mê đắm, mà  thời gian đời người đi gần  hết một phần hai cái trăm tuổi vẫn không vơi bớt niềm yêu. Bất chợt, chị bạn thân cùng cơ quan rủ rỉ chúng mình may váy Mường mặc nha.  Vài tuần sau, bỗng dưng  chị mang đến chiếc cạp váy nói tặng em đấy, mà vừa nhìn thấy nó  mình đã như  bị thôi miên.
Chị bạn nói là cụ ngoại của chị, gần  tuổi 80 rồi,  vốn được người làng coi như  một nghệ nhân dệt thổ cẩm, đã tự tay se sợi nhuộm chỉ và dệt nên tấm cạp váy này. Từng hoa văn li ti sắc nét nổi lên mịn màng như vân gỗ. Nhìn vào đấy như thấy cả một rừng hoa lá gió mây đang bay lượn. Sự pha trộn màu sắc tách bạch mà rành rẽ, mà vẫn  mang  nét đẹp hài hòa đến ngỡ ngàng. Những sắc màu đen,  vàng, hồng,  trắng, đỏ tươi và  đỏ rượu vang, xanh lục bảo và  xanh na vy, đan xen với nhau trong từng nét hoa văn tinh xảo. Trên tay  nâng  tấm cạp váy và  hình dung ra cụ bà 80 lụm cụm bên khung cửi đạp bằng chân, nhưng đôi mắt còn  tinh anh, cặm cụi chọn chỉ và lựa màu,  thoăn thoắt luồn thoi, tỉ mẩn từng sợi tơ mũi thêu. Chỉ nghĩ thế thôi mà niềm ngưỡng mộ liền đi kèm cảm giác cay cay nơi sống mũi. Lại nghĩ  cụ bà Nghệ Nhân rồi sẽ đến tuổi Trời, rồi  đây ai sẽ lưu giữ được nghệ nhân ?  
Mẹ đã từng đeo kính lão,  ngồi hàng giờ đề ngắm từng đường thêu của bộ cạp váy này, và thốt lên, cả đời  mẹ chưa bao giờ có được bộ váy Mường mà có cái cạp váy đẹp như thế. Mẹ  còn xuýt xoa tấm  “ cao váy” này dệt bằng tay,  đẹp quá cơ là loại hiếm hoi lắm đấy, trong bộ cạp váy thì tấm “ cao váy” là giá trị vì dệt khó lắm, nên thường được bán rất đắt tiền. Nếu ai đã mặc váy Mường thì mới biết giá trị của tấm “ cao váy”, đó là phần các đường dệt hoa văn đều theo chiều thẳng đứng tạo cảm giác cho  thị giác về sự cao ráo,  thanh thoát, khi nằm trong tổng thể bộ váy thì đây là phần ôm khít vào eo lưng thiếu nữ làm tăng nét  thon thả, nâng vầng ngực thanh tân,  đẩy dáng người cao lên bội phần. Mẹ nói ngày xưa, bà Ngoại chỉ sắm cho “cạp váy” thôi, mà không có đủ tiền để mua tấm “cao váy” đâu, nên hay thay thế bằng mảnh vải hoa có màu sắc rực rỡ, nhưng như thế thì không đẹp tẹo nào.
Bây giờ, mỗi khi mang bộ váy ra mặc lại nghĩ đến cụ bà Nghệ Nhân,  người đã dệt nên bộ cạp váy tuyệt vời. Chợt nghĩ  con người ta sẽ không bao giờ chết, nếu như đã sống xứng đáng với niềm yêu của mình, và  khi ấy cái chết chỉ là sự chuyển từ cõi này sang cõi khác mà thôi. Vậy mà 5 năm sau cụ bà Nghệ Nhân đã  nhẹ nhàng làm cuộc viễn du  về  Trời một cách thanh thản. Đoán chắc người như cụ khi về Trời thì sẽ được  bay bay trên những tấm thổ cẩm mà cụ đã tự tay thêu dệt nên những lá thắm hoa tươi. Thấy báo chí và các nhà nghiên cứu văn hóa nói hay lắm, rằng nghệ nhân là những pho văn hóa sống. Nhưng đã mấy ai biết đến  nghệ nhân sống bình  lặng, thậm chí là lay lắt  ở nhưng  nơi cách trở xa xôi ? Lại nghĩ đến trường hợp có  cụ  đã được phong nghệ nhân ngành ca trù, nhưng chỉ khi cụ mất thì chuyện bảo tồn giọng ca bất hủ mới được nghĩ đến? còn cụ bà Nghệ Nhân này  dù chỉ được vinh danh ở làng cũng là điều vinh hạnh cho cụ lắm rồi chăng? 
 Nếu nói “ người đẹp vì lụa…” thì “ hoa hậu” đẹp nhất mà con bé từng ngưỡng mộ  chính là Dì Út của nó. Bởi Dì chỉ mặc thứ trang phục duy nhất là váy Mường. Nó say mê ngắm dáng người  cao cao tròn lẳn nuột nà dấu trong bộ  váy đen nhánh lả lướt xuống đến mắt cá chân, với những hoa văn rực rỡ nơi cạp váy, với thắt lưng nhiều màu sắc – thường là 2 màu, với bộ xà tích  bằng bạc sáng loáng điệu đà. Cả đến cái khăn trắng muốt nhỏ nhắn mà  Dì nó  thắt trên đầu một cách như hờ hững mà  con bé cũng thấy sao đáng yêu thế. Con bé như mê đắm nhìn theo những bước chân duyên dáng của Dì, mà  mỗi khi bước đều lộ ra gót chân mịn nhẵn, không hề bị nứt nẻ, không xấu xí như gót chân của bác dâu, và vì thế  càng  nỗi bật dưới cái viền gấu váy màu đỏ. Trả lời thắc mắc của con gái, mẹ nói váy Mường chỉ dài chạm mắt cá chân thôi để cho còn khoe gót chân  và  viền gấu váy thường là màu đỏ để cho vừa đẹp một cách quyến rũ. Thế thì còn bé thấy Dì Út của nó vừa đẹp vừa quyễn rũ nhất đời luôn. Con bé yêu Dì Út  lăm lắm bởi dì đẹp đã đành, nhưng sau này khi đủ lớn, con bé hiểu niềm đam mê về bộ  váy Mường được khởi nguồn từ người thân yêu. Chỉ chứng ấy thôi cũng đủ nuôi khát khao gìn giữ nét truyền thống trong bộ váy Mường.
Mỗi khi lục lọi đống váy áo của bác dâu, con bé lại thắc mắc sao váy áo đẹp như này mà cất đi? Con bé nhiều lần năn nỉ Bác Dâu “ mặc cho cháu xem nào”. Trong thâm tâm con bé  không thể chịu được ý nghĩ của người già, có váy áo đẹp để dành lúc chết mới mặc. Đấy là hệ quả của một cuộc sống trăm bề thiếu thốn, sống trong toan lo, nên người Việt chỉ có ý nghĩ làm ăn tích cóp dành cho “ sau này”.
Đến khi Bác Dâu về Trời, con bé đã cùng các chị mặc cho Bác Dâu mấy bộ váy áo liền, bộ nào cũng đẹp tuyệt vời và còn như thơm mùi bông. Mẹ lại nói trong nhà mình, chỉ có  Bác Dâu có những bộ váy đẹp, vì Bác Cả  rất chiều chuộng và  không tiếc tiền mua sắm  cho Bác Dâu những bộ váy  áo đẹp nhất. Giờ đây, thỉnh thoảng nhắc lại chuyện đã qua, mẹ lại tiếc giá như cứ giữ lại một bộ váy của Bác Dâu để  làm kỷ niệm?
Biết là  cứ khắc khoải về một niềm nuối tiếc thế thôi, mà đành chịu để mất đi, như gia đình tôi đã khồng còn bộ váy Mường nào của những người đã khuất? Thời gian trôi không chờ đợi ai, chỉ còn hoài niệm là thuộc về quá khứ. Nhưng hoài niệm có kết nối được với tương lai hay không lại phụ thuộc vào thế hệ hiện tại có niềm yêu với những giá trị truyền thống hay không ? Cơ mà phải nói thêm là hiện tại có đủ sức để  mà yêu truyền thống hay không?

Viết xong 1/8/2013.

Thứ Hai, 23 tháng 9, 2013

NHÀ GÁC, CƠM ĐỒ….



                                                                             Tản văn: Phan Thị Mai Hương
    Mẹ kể rằng khi  sinh được 1 tháng  tuổi tôi đã về quê ngoại . Đến  khi bắt đầu  biết nói thì cái  câu “ cơm đồ, nhà gác, nước vác, lợn thui” được phát âm bằng tiếng Mường,  đã đóng đinh vào trí nhớ. Từ đấy  cơm đồ nhà gác đã  đi theo suốt tuổi thơ  tôi, day dứt  đi theo cả nửa cuộc đời, như nhắc nhở món nợ với quá khứ.
   Trí nhớ non nớt thuở ấu thơ dường như không phai mờ hình ảnh về những  nụ cười vui vẻ đầy  trêu chọc của các bác, các dì, các chị con nhà bác, khi nhìn bộ mặt “ngẩn tò te” của con bé con là tôi thuở ấy, khi nghe các chị nói câu thành ngữ trên bằng tiếng Mường.  Thêm nữa là  lời nhận xét chắc  nịch của bác Cả  rằng cái con bé này  chắc rồi sẽ mất gốc nhà Mường thôi, và bác cũng nói câu đấy  bằng  tiếng Mường, nên các chị lại càng được thể cười rũ rượi trong cái lúng túng đầy ngượng ngập của tôi. Đấy, tôi cũng chả hiểu sao, cả nhà tôi gồm bố mẹ và 5 chị em, thì chỉ có mỗi tôi là không biết nói tiếng Mường. Tuy mù tịt cái  “môn nói” nhưng  tôi lại rất giỏi cái “ môn nghe” , nên đấy là lý do  rõ ràng nhất để chứng minh cho cả họ hàng là  tôi đâu phải đứa bị “ mất gốc nhà Mường”.
 Bây giờ không có ai phải lo thiếu đói, không phải  sống trong cảnh có  bữa nay phải  nghĩ đến kiếm bữa mai, và quả thật là muốn ăn cái gì cũng có thể mua. Nhưng trong tôi vẫn thèm ơi là thèm, muốn được thấy lại cảnh bác Cả xòe hai bàn tay to chắc nịch có những ngón nổi gân rắn rỏi, nhấc cao cái cuốp gỗ đã  lên nước thời gian nâu bóng, dốc chổng ngược lên, để cho cả một ụ xôi trắng tinh khôi trôi tỏa ra tràn  đầy cái viên, giống như cái mủng của người Kinh nhưng đáy nông hơn và miệng rộng hơn, được đan bằng cật tre, mà  thời gian in dấu bằng màu vàng ươm và lên nước bóng loáng. Những hạt xôi nếp căng bóng, vì còn nóng nên chưa dính vào nhau, lặng lẽ và kiêu hãnh  ngả dần xuống rồi nằm cạnh nhau một cách có trật tự, nom đẹp đẽ mọng mẩy và nõn nà.
 Thèm lắm í, được hít hà làn khói thơm bốc lên mù mịt, che lấp cả viên,  hương thơm tỏa  lan ra khắp ngôi nhà sàn thênh thang. Hương vị của  xôi đồ trong cuốp gỗ như giữ nguyên và tinh lọc được mùi thơm của đất, của trời,  của nắng, của gió, của lá , của hoa.  Dường như những gì  tinh túy nhất của thiên nhiên đều  được kết đọng trong làn khói thơm đặc biệt  quyến rũ ấy. Mà chỉ có thể hình dung là mùi  hương thanh thoảng nhẹ nhõm của hoa lúa khi cây lúa bắt đầu uốn cong mình như dấu hỏi. Là hương thơm đậm nồng phả ra từng luồng ấm áp của bông lúa vừa cắt từ ruộng về. Là hương thơm ngào ngạt của  hạt gạo khi mới tách mình ra khỏi vỏ trấu. Là hương thơm nồng nã mà ngọt ngào của  nồi cơm gạo mới  khi  vừa  chín tới .  Tôi  thầm cảm ơn bố khi đặt tên con gái mang ý nghĩa là hương của  hoa lúa, và trong sâu thẳm luôn trỗi dậy nỗi thèm mùi hương ngạt ngào của đầm ấm yêu thương xưa ấy lắm, mà không biết mua ở đâu?
 Đôi khi thì trong cuốp không phải là xôi nếp, mà là những gói lá chuối, mà bí mật của nó nằm sau tấm lá  đã chuyển từ màu xanh tươi sang  màu xanh thẫm, hơi đen. Tôi háo hức đợi bác Cả lật giở  từng tấm lá. Khi thì là cả một cuốp  đầy rau xanh tươi với hàng chục loại lá hái  ngoài đồng, trong vườn, trên bờ rào, ven chân hàng dậu thưa. Khi thì là những con cá suối có cái  lưng xanh đen, phưỡn cái bụng trứng trắng núng nính, nằm  giữa lớp măng chua trắng xám, ngổn ngang. Có khi lại là một con chim gì đó mà tôi không biết tên, nhưng không dám  hỏi vì biết là lại phải nghe câu trả lời bằng tiếng Mường. Tuy không nhớ nổi tên gọi của con chim, nhưng  vẫn nhõng nhẽo đòi bác miêu tả lại lông của  nó màu gì, khi nó vẫn còn sống í,  và lập tức  sắc  màu ấy được gắn ngay vào bộ nhớ.  So với việc được ăn một thức ngon, thì tuổi thơ dường như lại không háo hức bằng việc hình dung loài chim nào cũng là  Phượng Hoàng rực rỡ mang túi ba gang đang sải cánh  bay về nơi biển khơi xa, nơi lấp lánh với nhiều vàng bạc châu báu lung linh, để đến  bây giờ ký ức nào cũng xa vời vợi như năm tháng bay qua đời người.
Không chỉ riêng tôi đam mê quê ngoại, mà cả năm chị em tôi đều chung niềm thích thú ấy. Lý do cũng đơn giản thôi. Về đến quê là được bỏ dép và  trèo lên nhà sàn, chạy tung tăng khắp ngôi nhà sàn “ dài như một tiếng chiêng” như sau này đọc trong trường ca Đam San, háo hức  chạy đến mỏi cả đôi chân bé thơ . Tôi nhớ từng cái vân gỗ loang loang như vệt khói trên cây cột bóng loáng, đủ cho vòng tay ôm của thời tuổi nhỏ. Tôi thuộc từng cái mắt gỗ to và nhỏ trên những tấm gỗ rộng lót mặt sàn rộng thênh thanh, làm chân chạy của con bé thành phố đôi khi phải dừng lại rón rén ngắm nhìn. Tôi phân biệt được cái lỗ thủng nào là do con  mọt cần mẫn  gặm cót két suốt ngày đêm, cái lỗ thủng nào là do nứt vỡ, và cái lỗ thủng nào là do bác dâu khoét ra để nhổ nước cốt trầu.
Tính  bác Cả  rất cẩn thận, tấm gỗ sàn nào bị thủng to là thay ngay. Nhưng bác lại rất chiều bác dâu, nên riêng tấm gỗ khoét lỗ ấy thì không bao giờ thay. Bác dâu, vốn rất yêu chiều chị em tôi và riêng  mẹ thì coi bác dâu như thế thân của bà Ngoại, đã thân thiết chung sống với tấm ván khoét lỗ,  đã ngồi như gắn liền với cửa vóng nhà sàn để giã trầu, đến năm 85 tuổi thì về trời.  Để đến bây giờ, nhìn vào cái lỗ thủng trên tấm ván sàn, lại tưởng đâu như dáng hình xưa đang lụm cụm ngồi nhai trầu, chỉ là vừa đứng lên đi vào bếp mà thôi.
Tôi thích quẩn quanh bên chân bác dâu, vì xung quanh bác rất nhiều hộp đan bằng cật tre, mà cái nào cũng óng chuốt nuột nà như eo lưng ong thiếu nữ. Tất cả những thứ hộp và ớp này đều do bác Cả tự tay chuốt bằng cật tre đực và đan, mà sau này nghĩ lại tôi đồ rằng bác Cả đã  đan bằng tất cả tình yêu  kiểu “ lạt mềm buộc chặt”. Tôi tha hồ lục lọi các hộp ấy với niềm thích thú vô cùng, cái đựng trầu  cau, cái đựng thuốc lào, cái đựng kim chỉ, có cái đựng nguyên chỉ thêu,  có cái dùng đựng những mụn vá xanh đỏ, có cái lại để không. Tuổi trẻ con thật là ngộ khi chỉ  ước mong có những cái hộp đan ấy để chơi bày hàng. Bây giờ thì  vẫn nhất quyết bày một cái ớp trên bàn ăn đấy thôi, nhưng không dám đựng gì vì sợ mốc hỏng mất. Làm thế để đỡ nhớ tiếc rằng sao lại có những cái hộp, cái giỏ, cái ớp  xinh xắn nhường ấy? Rằng cái  thuở xa xưa ấy như  chỉ là có trong truyện cổ tích hoang đường, như cái hang đầy vàng bạc châu bàu nằm giữa biển khơi xa kia.
Thèm được duỗi dài chân,  gối đầu lên lòng bác dâu, hít hà mùi thơm thơm nồng hắc của  trầu và cau trong cái cối trầu bằng đồng có những hoa văn tinh xảo. Hầu như  lúc nào  bác dâu cũng ngoáy trầu phát ra tiếng kêu rin rít,  đôi khi  được bác nhờ làm hộ, rồi lại nói  giã trầu như thế là không ngon, con gái vụng thế thì sau này chỉ có ế chồng thôi!
Con dao cau nhỏ xíu sắc lẹm cùng bộ xà tích bạc trên cạp váy  dệt con  hươu của bác dâu, theo nhịp tay ngoáy trầu, lúc nào cũng phát ra âm thanh lanh canh như reo vui . Từng nghe mẹ nói bằng giọng hơi ghen tị rằng cái cối trầu cùng bộ xà tích này là của  một  nhà dòng dõi quan Lang,  bác Cả  đã mang  một trâu đã vực cày  đổi lấy để tặng vợ yêu. Rằng suốt thời con gái mẹ cũng chỉ ước mong một bộ xà tích như vậy, và mẹ không được bố yêu chiều đến mức ấy đâu. Mẹ cũng thở than đầy tiếc nuối  lắm lắm, khi mà  anh con bác Cả đã bán mất bộ xà tích  bằng bạc lõi ấy đi sau khi bác dâu vĩnh biệt cõi trần gian.
 Cũng đã từng thấy những cái đồ tương tự được bán nhiều ở các khu du lịch,  nhưng sao nom cứ như đồ giả, không thể nào đẹp bằng những thứ đã nhìn thấy trong tuổi thơ. Ôi có những thứ tưởng như đơn giản mà không bao giờ thấy lại. Thế mới biết ký ức khi đã thành máu thịt thì luôn thổn thức bằng những rung động của  riêng nó.
Còn bao nhiêu là niềm  yêu với  cái hành lang bao quanh nhà sàn. Những khi giỗ chạp thì cái mặt sàn rộng nhường nào cũng trở nên chật hẹp, thì cái hiên rộng ấy  đủ chỗ cho chị em tôi đùa nghịch mà không làm quẩn chân người lớn. Khi lớn thêm chút nữa, hiên nhà  lại là nơi tôi thập thò rình các chị đi chơi với bạn trai, là nơi tôi chẩu mỏ ngồi hóng hớt khi các chị cùng bạn bè cười đùa rúc rích với những chuyện dưới đất trên trời mà một  đứa bé con chả hiểu gì. Thời gian đời người được tính bằng năm tháng thì  cứ trôi  miên man, nhưng cái còn đọng lại trong tâm khảm là nơi hàng hiên ấm áp  như tình yêu thương trìu mến của một thời  trẻ dại mà nồng nàn.
Mỗi khi nằm dang rộng chân tay trên nhà sàn, tôi thường nhìn lên mái gianh được lợp dày đến cả gang tay con trẻ, mà vẫn lo lắng lỡ mưa đá thủng mái nhà, giống như nhà bố mẹ tôi ở thành phố bị mưa đá đập vỡ mái ngói, dột trong nhà như ngoài sân. Mẹ  thường  nhớ lần mưa bão sập cả  mái nhà, mẹ bị cây nứa nhọn xuyên vào đỉnh đầu, bác Cả chui vào bới  cái mái gianh đã sập xuống để lôi mẹ ra. Di chứng để lại là vết sẹo to đùng trên đầu mẹ mà  tôi hay di ngón tay lên đó. Từ lần sập mái nhà ấy, bác Cả mới lợp gianh mỏng đi cho đỡ nặng mái. Trời a! tôi nghĩ cắt được cỏ gianh để lợp đủ cái nhà sàn cũng là một kỳ công rồi. Lại còn lợp thật dày thêm nữa! thì tôi đã nói rồi, tính bác Cả rất cẩn thận và cầu toàn mà. Ngôi nhà sàn của bà Ngoại  ngày một đẹp hơn lên là do bàn tay chăm chút của bác Cả.
Đời thật trớ trêu, tuy không phải lo đói, nhưng người ta  vẫn mải miết kiếm tiền. Tôi vẫn có cảm giác đau như bị cắt vào ruột khi nhớ đến việc người anh con bác bán mất ngôi nhà sàn . Việc này khiến mẹ tôi giận anh đến nỗi rất lâu sau đó, và ít muốn về quê. Sau này anh nói lí do bán  nhà vì  không tìm được cỏ gianh lợp mái, vì  tấm ván mọt gặm không thể thay. Anh đã  không giữ lại ngôi nhà sàn đẹp nhất làng. Nhưng xung quanh hàng xóm lãng giềng nhà anh,  cũng dần mọc lên những ngôi nhà mái bằng 1 tầng, thậm chí là  2 tầng, nhìn ngôi nhà ấy được đặt trong không gian bờ rào, bụi tre và  cây trái ,  vườn ngô và  vườn rau, trên nền đất đỏ au của đồi núi,  nom thật trái mắt và  vô duyên như mặc trang phục com lê mà lại đi dép lê tổ ong. Cho nên  biết là có một thứ đã mất đi vĩnh viễn mà không gọi ra được bằng tên, không có tiền nào mua được.
Vì bán mất ngôi nhà sàn, nên không có lí do gì giữ lại cái máng đẽo bằng gỗ, đựng đầy nước, mà trong lòng máng phủ làn rêu xanh mịn như nhung. Cái gáo bằng ống nứa để úp ngang miệng máng, dùng để múc nước rửa chân trước khi trèo lên nhà. Cái máng đựng nước ấy thường  để ở gốc cây bưởi, mà  mỗi mùa ra hoa thơm ngát cả ngôi nhà. Hình như hương thơm thanh ngát của  hoa bưởi thấm xuống cả những phiến đá lót chân đã  mòn vẹt theo theo thời gian, để loang ra ôm choàng lấy ngôi nhà sàn, làm cho cứ hình dung  như là  vòng tay bao dung hiền từ của  ông bà Ngoại, bao bọc lũ cháu từ thành phố về  nghịch ngợm như quỷ con. Một thời gian sau, vẫn nom thấy cái máng cạn trơ đáy, khô nẻ, lớp rêu bám khô cong cớn như miếng bánh đa nướng và chuyển sang màu nâu xỉn. Chỉ đến khi cái máng bị phơi nắng mưa  nứt nẻ ra thì nó được chuyển vào bếp, chẻ ra thành củi đun.  Hình như lẩn khuất trong tán lá xanh còn có ánh mắt trách móc, dỗi hờn của người xưa. Nghĩ thế nên cứ thấy lòng đau nhoi nhói từ hoài niệm xa xôi.
Năm tháng dần trôi, anh em họ hàng chúng tôi, dù ở quê hay thành phố đều đã trưởng thành trong những ngôi nhà mái bằng bê tông cốt thép giống như những  hộp diêm. Lại hình dung chúng tôi giống  như  những con dế bị nhốt trong hộp diêm. Cho nên dù không nhạt phai lòng yêu, nhưng cũng không háo hức lắm khi hình dung về quê chỉ là sự di chuyển từ cái  “hộp diêm” ở thành phố về cái “hộp diêm” ở  làng quê mà thôi.
 Nhìn thấy trước tương lai là ngôi nhà sàn của người Mường sẽ dần mất tích, vì rừng không còn gỗ. Hàng ngày, từng đoàn người đi vào rừng lấy về mọi thứ mà không trả lại cho rừng cái gì. Nơi đã từng là rừng rậm xanh tươi nay được thay thế bằng những  dãy đồi trọc lốc như bát úp, nối nhau bất tận. Câu nói đùa “ phủ trọc đồi xanh” đúng luôn một trăm phần trăm  theo nghĩa đen chỉ vì  nỗi lo cho cái ăn cái mặc hàng ngày?
  Nghĩ  chắc mọi người sẽ cùng giống nhau ở chỗ  dù có  đi hết cuộc đời này cũng  không bao giờ nguôi cạn nỗi nhớ quê. Cho nên hình ảnh ngôi nhà sàn thênh thang, nắng gió ngập tràn, ở giữa vườn sum suê cây trái,  luôn nuôi trong tâm khảm một nỗi tiếc đến  khắc khoải.  Nhưng hơn hết là  nỗi lo cho  thế hệ sau chắc sẽ chỉ biết “ cơm đồ nhà gác….” qua hình ảnh có trong  sách nghiên cứu về một nền văn hóa đã mất?
                                        Viết xong 30/11/2012 – sửa chữa  18 / 4/ 2013



Thứ Ba, 1 tháng 1, 2013

VĂN HÓA VÀ CHỢ


                                                Tản văn : Phan Thị Mai Hương

     Ngày cuối cùng của năm 2012. Bạn hỏi sao không sopping, trả lời không thấy rét à, hết việc cơ quan chỉ muốn về nhà cho ấm áp. Bạn trách  hứa đi ngắm hoa sao không thấy bảo gì, chẳng lẽ hỏi lại thế gió mùa đông bắc không đến Mộc Châu à? Điện thoại nheo nhéo ới ơi đi cà phê Hà Nội kẻo sắp hết năm, rồi làu nhàu gì mà bận như chính khách, nhưng bạn làm sao hiểu lẽ nghề “ dậy hổ” ( dạy học) còn bận hơn ý.  

Thứ Hai, 31 tháng 12, 2012

TẢN MẠN SAU NGÀY 20/11


                                                                           Tản Văn:  Phan Thị Mai Hương
Muốn viết cái gì đó về ngày của nghề giáo, nhưng cứ nghĩ mãi, vì có đủ nỗi sợ.  Nào là sợ “ vạch áo cho người xem lưng”; nào là sợ bị “ném đá” tơi bời từ đồng nghiệp; nào là sợ thiên hạ “chở gạch” đến ngõ nhà mình, mà cái ngõ nhỏ này bị chèn lối vào thì…biết đi đường nào?  làm sao mà “ khi đi em hỏi, khi về em chào” cho được?

MỘT MÌNH


                                                 Tản Văn:  Phan Thị Mai Hương
Thế nào là một mình nhỉ? Chẳng lẽ lại tra từ điển hay hỏi cụ Gúc Gờ ư? Mà việc gì lúc nào cũng phải chính xác nghiêm ngặt cơ chứ? Cứ thoát ra khỏi vòng mô phạm đi, nói theo ngôn ngữ “ sát thủ…” là cứ thoải con gà mái đi, vì là đang có mỗi  một mình.

TẬN HƯỞNG


                                                          Tản Văn:  Phan Thị Mai Hương
Chợt nổi hứng muốn  viết cái gì đó  sau một hồi ăn uống. Cơ mà văn chương vốn được coi là thứ  lãng mạn, thế mà xuất phát cảm hứng lại  từ chuyện ăn uống hết sức  phàm tục thế này, chả biết có xứng không đây? Mà loại mình thì  vốn là   “ ăn thùng uống vại”,  đâu có bén gót cụ Tản Đà, hay cụ Nguyễn Tuân mà ăn uống thanh cảnh gẩy gót đến từng cọng rau húng, mà phải húng Láng chính hiệu cơ, nên đâu có  dám phạm thượng bàn chuyện “ ẩm thực” ?  

AI LEO NHÀ SÀN NAO


                                                     Tản văn: Phan Thị Mai Hương
Đành “ nghiến răng, nín thở ” bớt chút thì giờ vàng ngọc vào cái “ ẻn try” này thui. Bọn chúng “ la thăng” đến váng cả  trời cao rằng “ mama im tiếng”. Với lại ghé qua “ nhà” bọn chúng thấy tụ tập ầm ĩ, nhảy nhót gào thét với “ mõ tru” ( Bài MÕ TRÂU nhà nàng Mai- nhưng nàng í hổng biết tiếng Mường gọi “con trâu” là CON TRU ) thì mình đây cũng âm mưu tụ tập “ fan hâm mộ”