Tùy Bút : Phan Mai Hương
Mùa
xuân bắt đầu cho chu trình tái sinh,
và không gian ấm áp
thì buông lời mời gọi tới những miền xa xôi . Nhưng nếu mùa xuân là lập trình sẵn của tạo hóa, thì chuyến đi của chúng
tôi hoàn toàn là ngẫu hứng.
Một
lần đón bạn văn chương đi qua cửa ngõ lên Tây Bắc, hoặc cùng ly ca
fe đen kèm nhạc Trịnh để trốn cơn gió
bấc cuối mùa, cũng đủ làm cho ham muốn xê dịch trỗi dậy. Nắng lên là đi nhé,
một lời hẹn phụ thuộc vào đất trời và tưởng chừng như vu vơ, thế mà thành một chuyến đi cùng mùa
xuân. Thế mới biết, sự ham muốn xê dịch của người viết cũng như hạt giống được ủ sẵn, chỉ còn đợi gió xuân ấm
áp là đội đất ngoi mầm. Nhưng xét cho cùng
thì cái gọi là ngẫu hứng ấy đều nằm trong sự lập trình của cảm hứng với tình
yêu bất tận cho văn chương trải
theo những chuyến đi trên cung đường mùa
xuân.
Đêm Tây
Bắc được chờ trong thấp thỏm, và ngày Điện Biên háo hức trong đợi mong, hình như thời gian trở
nên dài hơn. Không chỉ riêng tôi rơi vào tâm trạng ấy. Những mái đầu đã hoa râm ríu rít bên mái đầu
xanh tóc, vô tư kể lại giấc mơ
đến nơi xe đi rồi, mới thấy tất cả đều mang nụ cười trẻ trung và đầy háo
hức với chuyến đi xa gần nghìn cây số. Chúng
tôi hành quân lên Tây Bắc trong một sớm mùa xuân mù mịt sương trắng đặc như sữa, quấn quện quanh những khúc cua tay áo, đến
nỗi hai đầu xe gần chạm nhau mới nhìn
ra, mỗi lần như thế đều như nghẹt thở, và cảm giác mây đẹp như thơ cũng bị trôi tuột đi, bay theo mây là là
ngả xuống vực sâu hun hút.
Nếu cha anh xưa lên Tây Tiến chỉ
có “ áo rách vai, quần có vài mảnh vá” (
thơ Chính Hữu) để tìm hòa bình cho quê hương thân yêu, thì chúng tôi lên Tây Bắc trong sự chuẩn bị đầy đủ áo dạ, khăn len chống
rét với niềm tin tìm lại bóng hình của
một thế hệ cha anh đã đi qua trang sử của đất nước. Trưởng đoàn công tác của chúng tôi với nụ cười hiền lành trên ánh mắt, nhưng lời nói thì kiên quyết và rõ ràng rằng “nghị
quyết” của chuyến đi là “ viết với chủ
đề kỷ niệm 60 năm chiến thắng Điện Biên
Phủ, vì thế khi trở về câu trả lời phải là tác phẩm”. Tôi biết anh mộc mạc đầy trải nghiệm qua trang văn, và
không kém phần tinh tế bay bổng qua thơ, nhưng trong tư cách Tổng biên tập cho tờ báo, dường như anh muốn chúng tôi hiểu
và chung nỗi lo làm sao để bài vở
hấp dẫn. Bạn viết hỏi đã có ý
tưởng nào cho Tây Bắc chưa? Câu hỏi
không chỉ riêng bạn mà đang là
áp lực cho cả đoàn công tác, nên nghĩ
bạn nói ra như một cách xả xì chét thôi mà.
Chưa kịp trả lời bạn thì xe đã lọt thỏm vào vùng núi đá trập trùng, mắt liền dán vào con đường uốn lượn quanh co, mải miết và kiên
nhẫn vượt núi chồng núi lô nhô. Dường như để chúng tôi yên tâm, anh
tài xế rất tự hào nói đã có ba năm chạy
xe đường Điện Biên, thế mà
khi leo đèo Pha Đin cảm giác tay
lái vẫn vô cùng cẩn trọng. Buông mắt
xuống vực sâu thăm thắm phủ trắng xóa mây mù ở xế bên cửa kính để tưởng tượng nếu thả rơi, xe chúng tôi chắc chỉ là chiếc bánh ga tô nhỏ xíu tan biến trong cốc sữa đặc. Tưởng tượng một chút để nghe tim đập mạnh hơn, để hình dung ngày
xưa ấy con đường mòn này len lỏi trong rừng già, oằn lưng mang vác bao nhiêu pháo, xe bọc thép, xe đạp thồ gạo
lên Điện Biên . Những tượng đài tưởng niệm chiến thắng kỷ niệm về con đường ra chiến trường thấp thoáng bên
sườn đồi như nhắc nhở trang lịch sử thấm đẫm mồ hôi và máu của thế hệ cha anh. Thế
hệ chúng tôi và cả thế hệ sau nữa, sẽ
thật khó mà hình dung ra sức mạnh của chiến tranh nhân dân, khái niệm này sẽ
chỉ là những con chữ vô hồn khô khan trên trang sách giáo khoa mà thôi, nếu không
có một lần lên Tây Bắc trên những cung
đường hiểm trở như thế này. Lại thấy có ý tưởng để viết về Điện Biên cũng gian nan cho ngòi bút, không kém cha anh xưa
từng đã đưa vũ khí và lương thực vào
chiến trường trên con đường này. Tôi nghĩ đây là đề tài quá lớn, phần nữa là vì các cây
bút đại thụ đều đã đến Điện Biên và được
tắm trong không khí nóng bỏng của thời khắc lịch sử. Tuy nhiên chúng tôi tiếp
nhận lịch sử, nhưng vẫn hy vọng làm tươi mới Điện Biên theo cách riêng của
mình.
Điện Biên là thành phố phên dậu
của miền biên cương, nắm vị trí địa đầu Tổ Quốc, chắc vậy nên cái gì cũng hứng
chịu đầu tiên. Mà đặc sản phải kể đến là
món gió Lào vừa khô vừa nóng, từ sườn tây dãy Hoàng Liên ập xuống,
thường xuyên ở ngưỡng 35, 36 độ. May quá, vì chúng tôi đi vào mùa xuân, nên cái
nóng chỉ đủ để hâm nóng cảm xúc thôi, nhưng
chắc làm nhớ lâu vì chỉ di chuyển
mấy trăm cấy số mà được đi qua mấy vùng
khí hậu, từ chỗ lạnh 7, 8 độ đến
chỗ nóng gần 30 độ, làm gì mà không ngỡ
ngàng?
Tôi ngỡ ngàng vì Điên Biên mang
sức bật của một thành phố trẻ. Tôi cảm nhận nét tươi trẻ này trong ánh đèn đủ màu rực rỡ làm cho đêm thành phố trở nên
lộng lẫy. Thấy sắc màu đô thị qua bóng
dáng những siêu thị, cửa hàng, khách sạn
đèn thắp sáng trưng, lại nhớ có lần biết
đêm ở Hải Phòng, đã phải than là thành
phố công nghiệp mà thiếu sáng quá. Có
nhiều khách sạn đang hối hả hoàn
thiện, gạch ngói từng đống vun gọn trên vỉa hè. Có nhiều khách
sạn chắc vừa làm xong, tươi rói và bóng loáng
không một hạt bụi, nom như thiếu
nữ Thái đang tuổi dậy thì. Bà chủ khách sạn nơi chúng tôi ở vui vẻ kể chuyện về
thành phố mà làm như chuyện trong nhà mình, rằng năm nay thành phố có nhiều khách sạn to lắm, đợt tới
này làm lễ kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ chắc không thiếu nơi ở; nghe nói
sẽ làm to lắm, có cả duyệt binh của quân đội
nữa. Chả tin vào điều “ không thiều nơi ở”, vì hôm nay chúng tôi lên đây
không trùng vào ngày lễ nào, chỉ trùng vào mùa xuân thôi mà còn nghe nói khách sạn
hết phòng . Ở các địa điểm di
tích lịch sử Điện Biên, tôi nom thầy khá nhiều du
khách là người nước ngoài. Vậy
thì đến tháng Năm, kỷ niệm 60 năm chiến thắng Điện Biên, chắc là các phòng
khách sạn đã được đặt kín chỗ từ bây giờ. Vẻ đẹp của thành phố nơi biên cương này giống như công chúa ngủ trong
rừng, vừa trải qua một giấc ngủ dài và được chàng hoàng tử đánh thức.
Chưa có
ý niệm ngày lễ 60 năm chiến thắng Điện Biên được tổ chức to như nào, nhưng tôi
chú ý đến lời của người phụ nữ tầm 65 tuổi, ngồi bán hàng lưu niệm bên cổng
khách sạn, giá mà Đại Tướng
Võ Nguyên Giáp còn sống đến tháng Năm này nhỉ? Nói rồi lại tự trả lời, nếu còn sống
thì Đại Tướng cũng khó mà di chuyển được đến
Điện Biên ? Thế mới biết Đại Tướng Võ Nguyên Giáp không chỉ là vị Tướng của quân đội Việt Nam, mà cao quý
hơn còn là Vị Tướng của lòng dân. Tôi thấy người dân Điện Biên nhắc đến Đại Tướng như thể người thân
trong gia đình, Điện Biên và Đại Tướng Võ Nguyên Giáp đã thành
tượng đài bất hủ trong lòng dân tộc
Việt Nam. Chỉ mới nghĩ thế thôi
đã cảm nhận được niềm xúc động dâng lên, và bây giờ nhân dân Điện Biên mang cảm xúc của cả một thế hệ người Việt Nam xưa đã hành quân lên Điện Biên, quyết tâm chiến thắng kẻ thù đói nghèo, giống như lời hứa của Đại Tướng với Bác Hồ,
trước khi bước vào trận Điện Biên là
phải đánh bại quân xâm lược.
Ngày lễ kỷ niệm 60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ chắc chắn đã nằm trong đợi
chờ khắc khoải của những thế hệ
sinh ra sau chiến tranh. Không khí ngày lễ dường như đã tràn ngập thành phố
biên cương. Tôi thấy mình trôi miên man trong
sắc đỏ rực rỡ của cờ và màu trắng tinh khôi của
hoa ban, biểu tượng mùa xuân Tây Bắc. Rồi lại miên man về một lễ hội hoa ban mà thành phố sắp mở, để rồi lại ước sao mình được nhìn
thấy khi hoa ban lễ hội mở từng cánh trắng tinh khôi ngưng đọng hơi
thở nồng nàn của đất trời mùa xuân. Tôi
thấy mình như bị sóng cuốn vào trong cái vòng xoáy hừng hực lửa nhiệt tình của
hàng trăm các em sinh viên và các chiến
sĩ quân đội, phơi trong cái nắng gần 30 dộ để tập màn biểu diễn cho lễ hội ở
sân vận động thành phố. Tôi chắc là họ
cũng như tôi, mong được nhìn thấy trang
sử oanh liệt hào hùng được tái hiện trên quê hương.
Tôi ngỡ ngàng trôi đi trong cái thành phố hiện đại mang đầy màu sắc của những chiếc khăn piêu. Khăn
piêu duyên dáng trong nhà hàng, khách sạn, cơ quan, nơi chúng tôi đến. Khăn
piêu uyển chuyển trên phố với những sọt, ớp đựng rau cải xanh rờn, cà chua đỏ ối, xoài vàng
ươm nom đã muốn tứa nước miếng. Giọng trong veo, dịu dàng, đon đả nghe đã thấy ngọt lịm “xoài vườn nhà đấy em mua mở hàng đi
chị bán rẻ cho” , làm cho khách xa không nỡ chối từ. Nhìn khăn piêu địu con nhỏ trên lưng, cắm cúi cấy trên ruộng bùn đã cày nhuyễn, lại thấy dâng lên một cảm xúc
thật khó tả, hình như đằng sau tấm thêu lộng lẫy của khăn piêu là vẻ
đẹp giản dị của đời thường nhưng không dễ gì nắm bắt, để cho tôi có cảm giác mình mắc nợ khăn piêu.
Tôi nghĩ cuộc sống thực luôn có nhiều cái bất
ngờ chờ đợi người viết, và Tây Bắc thật sự chắc không chỉ có ở thành phố, chả thế mà Tây ba lô đến Sa Pa,
Mai Châu, Mộc Châu chỉ nằng nặc tìm đến
các bản mường. Buổi tối Điện Biên tuy
lạnh nhưng vẫn không ngăn được ý
định đi bản để tìm cho ra một khăn piêu. Chọn bản Mé vì là bản gần nhất, chỉ
cách thành phố khoảng 12 km. Thấy tiếc hùi hụi vì tắc xi như bay qua cánh đồng
mường Thanh mà không được nhìn thấy cánh
đồng, chỉ thầy ánh đèn thành phố xa tít
như sao trên sông Ngân Hà, tạo
thành đường viền bao bọc cánh đồng, để cố hình dung ra vựa lúa ngọt thơm của
Tây Bắc. Mắt mải dõi ra cánh đồng tối
đen, nên tai chỉ lõm bõm nghe anh tài xế tăc xi kể sự tích
cánh đồng Mường Thanh. Là phải gọi mường Then mới đúng, cánh đồng của Trời tạo ra để xin lỗi vì đã làm cho nhiều
trẻ con phải chết. Lúa Mương Then ngọt
vì có thịt xương trẻ con. Câu chuyện làm
gai lạnh sống lưng và làm rùng mình cả
đêm tối, nhưng may được an ủi vì cái kết
ngọt ngào. Chỉ biết rằng giờ đây dân Tây Bắc đã có một cánh đồng Trời ngọt
ngào.
Tôi
háo hức đồng ý đi Bản Mé luôn theo lời
khởi xướng của anh lái xe tắc xi, bởi
cái tên nghe đã hấp dẫn, tiếng Thái có nghĩa là nở ra, bung ra, nên chắc cái bản này sẽ như
bằng chứng sinh động của cuộc sống đang sinh sôi nảy nở. Cứ ngầm mong
như vậy, nhưng không ngờ đón chúng tôi
là một câu chuyện không vui. Gái bản Mé mang khuôn mặt phần hồng măng tơ,
tươi xinh như hoa hậu, vừa có 22 mùa xuân, có con lớn sáu tuổi và con nhỏ bảy tháng và chồng vừa chết vì bị tai nạn. Lòng trắc ẩn cho hoàn cảnh éo le nhói lên mà đành im lặng, vì mọi lời nói lúc này đều không có giá trị. Muốn chia sẻ mà lời cứ nghẹn lại khi hình dung bé gái 15 tuổi làm cô
dâu. Nhưng rồi lại ngỡ ngàng vì
nụ cười đón khách vẫn tươi roi
rói, và chén rượu ngô thơm nồng như giấu nỗi buồn vào trong tim , giầu nỗi lo
mưu sinh xuống đáy chén rượu. Sau một hồi rót và mời, má dường như hồng hơn và ánh nhìn vui tươi hơn, khăn piêu khoe xấp khăn vừa mới thêu, làm
chúng tôi hào hứng chuyển chủ đề. Nhà thơ dân tộc Thái của chúng tôi mở băng
ngoại ngữ thứ ba ra líu lo với khăn
piêu, còn khăn piêu cười tươi như hoa và
dịu dàng lắc đầu “ Không bán đâu, cũng không tặng được, để cho em gái còn đi lấy chồng mà. Cần nhiếu lắm đấy, cho mẹ chồng
và bà nội , bà ngoại, cô, dì, bác, thím bên họ nhà chồng mà, vẫn chưa
đủ đâu. ”. Sau này, nhà thơ rỉ tai tôi,
nếu khăn piêu í mà bán thì bao
tiền cũng mua. Tôi cùng chung ý
nghĩ như nhà thơ, vì đâu phải mua tấm
khăn, mà mua một bài thơ về sức bật kỳ
diệu của mùa xuân. Rời bản Mé, tôi mang theo hình ảnh hai chị em khăn piêu tươi
cười vẫy tay tạm biệt trong ngõ nhỏ, mang theo
câu chuyện về một cuộc sống buồn lặng lẽ không có
ánh đèn rực rỡ của Điện Biên, kèm
theo niềm tin chắc chắn vào tình yêu
cuộc sồng. Giờ đây, tôi đã hiểu
dù mùa đông có khắc nghiệt như nào thì cuộc sống vẫn sẽ
đâm chồi này lộc như quy luật của tạo hóa khi mùa xuân đến.
Tôi đã đầy cảm hứng muốn làm thơ khi bắt gặp
một khăn piêu khác e lệ dịu dàng bên một thi sĩ của đoàn chúng tôi. Sau
phải căn vặn mãi thi sĩ mới khai báo thật thà rằng đã gặp và quen từ mười năm trước, nghe rồi chỉ kịp thốt lên ôi trời, nếu hồi đấy đi thi chắc đoạt ngôi hoa hậu. Lại ôi trời lần
nữa vì thấy sức mạnh của thơ thật siêu
đẳng, nhưng nói riêng chút thì thơ của
thi sĩ cũng quyến rũ lắm cơ, nếu có làm
xiêu đổ, làm rơi tấm khăn piêu nào thì tôi cũng không lấy làm ngạc nhiên lắm đâu.
Mà thôi, để khăn piêu ấy làm nàng thơ quyến rũ cho thi sĩ
còn lấy vồn gợi cảm hứng thơ ca .
Mà thơ ca đã là sự quyến rũ lắm lắm, thì
bắng cảm nhận cá nhân, tôi dám khẳng định chiếc khăn piêu là bài thơ tuyệt vời
của miền Tây Bắc này. Lại nhủ thầm lần
nữa, vì chỉ qua Điện Biên với thời gian
quá ngắn ngủi và ít ỏi, nên coi như tôi nợ thành phố biên cương này một chiếc khăn piêu. Đúng thế,
tôi nghĩ sẽ ấp ủ đề tài về chiếc khăn piêu này trong một dịp khác, khi
được trở lại Điện Biên. Tôi đã mãn nguyện
vô cùng khi mua được một chiếc khăn piêu
có hoa văn rực rỡ được thêu tay rất cầu kỳ từ cô gái Thái ở khu di tích Mường Phăng. Tôi yêu quý chiếc khăn piêu này,
vì xuất xứ của nó từ nơi
mà bà con dân tộc ở Điện Biên gọi một
cách thân thương là “rừng Đại Tướng”.
Mãn nguyện vì mang được chiếc khăn piêu
về nhà, cảm giác như thể mang được cả sức trẻ trung tươi tắn và nét xinh đẹp thiếu nữ của một thành phố nơi biên cương. Lại miên man
nhớ là nhà văn Tô Hoài khi từ
biệt Tây Bắc , “ vợ chồng A Phủ” đã từng vẫy tay lưu luyến” chéo lù! chéo lù” ( tiếng
Mông có nghĩa là trở lại, trở lại) . Chiếc khăn piêu đã ghi lời hẹn một ngày nào đó tôi được trở
lại Điện Biên.
Chuyến đi Tây Bắc còn mang thêm nhiều hẹn hò
dễ thương cùng mùa xuân. Nếu khởi đầu của hẹn hò là những gặp gỡ, và bạn có thể có nhiều cuộc gặp gỡ trong đời,
nhưng tôi dám đảm bảo là những cuộc gặp của dân văn chương vẫn mang cái gì đó
khác biệt. Đây nhá, ví dụ bạn gặp một nhà lãnh đạo cấp huyện, ngay từ phút đầu đã đập vào mắt bởi
ấn tượng về sự phong độ đạo mạo nhưng không kém phần trẻ
trung. Cuộc gặp tuy không có nhiệt liệt chúc mừng, nhưng cũng nhiều vui mừng
chào đón dài dằng dặc khiến cho cái dạ dày dễ thương của tôi sôi lên ùng ục,
khi phải chờ đợi. Tất nhiên, liền sau lời chào đón thì sau đó là phải nâng chén chúc mừng. Đã từng
công tác nhiều năm ở miền núi, tôi biết rượu là một nét văn hóa rất riêng của miền cao, nâng chén không cạn là không thật
lòng, mà không thật lòng thì đồng bào không tin, và cầm chắc là việc dân vận sẽ
thất bại.
Tôi
đã rất “ ngoại giao” khi làm cái “ lễ
nghi” chạm chén bắt buộc này. Nhưng tôi
đã phải thay đổi cảm xúc khi vào cuộc,
vì rượu ngô núi đá với hương thơm nồng nàn đã dẫn dụ cho
văn thơ xuất hiện ngay trước mắt, khi trai Hmoong giữ nguyên giọng lơ lớ mộc mạc của bản mường. Rằng mình vui lắm
khi được đón đoàn văn nghệ sĩ; rằng mình yêu thơ lắm đấy , đã làm gần trăm bài
thơ để tán vợ nhá; rằng sau khi bắt được vợ rồi thì mình không làm thơ nữa nhưng
vẫn yêu thơ lắm nhá; rồi vô tư ôm vai và giới thiệu bài thơ của mình đây này,
trong khi đó thì “ bài thơ” chỉ mủm mỉm cười nụ và sóng sánh ánh mắt. Uống đi nhá, phải là
chén vợ chén chồng cơ nhá, làm cho cả mâm sóng sánh ngả nghiêng một cách hốt hoảng. Vẫn còn phải sóng sánh nghiêng ngả vì “ bài thơ”
này là đại biểu quốc hội tỉnh Sơn La cơ đấy. Lại vẫn phải sóng sánh ngả nghiêng vì trai Hmoong này đã
từng là cựu sinh viên C500, là khắc tinh của tội phạm ma túy và cờ bạc ở huyện Sông Mã, nơi mà thầy giáo dạy tôi
hồi đại học ( Thầy xung phong lên
dạy học
ở Sông Mã) từng nói “ nếu Sơn La
là cái hang thì huyện Sông Mã là cái hốc của cái hang”. Trai Hmoong dí dỏm, vì
cán bộ đã bị lộ - là tội
phạm đã biết mặt - nên vừa mới phải về làm Bí thư Huyện ủy đấy nhá. Chủ
và khách cười sảng khoái, bên rượu ngô thơm nồng nàn như con
suối thấm đẫm hương hoa mận , hoa đào, hoa mơ
Tây Bắc. Lại phải tự hỏi, nếu như
thơ ca không sinh ra từ đấy thì còn
ở đâu?
Tôi nghĩ những tầng núi đá tai mèo
ngàn đời rắn rỏi và sắc nhọn, ôm ấp từng
bụm đất cho cây ngô khẳng khiu ra bắp ngọt ngào, đọng thơm vào chén rượu, dư sức làm mềm lòng bất cứ ai đi qua Tây Bắc.
Trưởng đoàn của chúng tôi nói đùa một cách rất
thật lòng là “ mọi người cứ về đi, còn tớ thì sẽ ở lại Yên Châu”, thì biết là
anh đã tìm ra cho mình một miếng đất màu mỡ để gieo trồng bắt con chữ nảy mầm. Thế là
từ biệt Yên Châu trong một ý tưởng gặp gỡ hẹn hò cho trại viết, làm hào hứng cả người ở
lại lẫn người ra đi. Thế là Yên Châu
mà lại không yên trong niềm đợi mong cho một chuyến đi khác.
Chuyến đi Tây Bắc của chúng tôi vào mùa xuân,
nhưng lại không phải là du xuân. Nhận sự đón tiếp ấm áp của Hội văn học nghệ
thuật tỉnh bạn mà nỗi lo bài viết cứ canh cánh bên lòng. Thôi thì cứ nhận đi
những tình cảm tràn trề thơm nồng như
rượu ngô trong chén. Quan sát cuộc gặp với
Hội văn nghệ Điện Biên và Sơn La, dễ thấy người lãnh đạo văn nghệ rất
khác với quan chức của chính quyền, cùng giống nhau ở dáng vẻ gầy gò có nét hiền hậu như anh giáo Thứ của nhà văn Nam Cao, thường
trực nỗi lo bài vở. Cùng là lối ứng xử
thân mật, như gặp lại bạn bè của thời
học trò, câu thứ nhất hỏi thăm cửa nhà,
câu thứ hai đã là tác phẩm mới và cũ như
nào? đang quan tâm đề tài gì đấy ? viết cho báo nhà tớ nhá? À, có cuộc thi viết
về Điện Biên đấy, tham gia tích cực luôn nhá? Sau đợt thực tế này thì về nhà nhớ gửi bài nhá; Cứ ríu rít quên ăn. Cứ nồng nã quên rượu. Cứ
vội vã nói như chả kịp nghe để rồi thầy
thời gian gặp gỡ nhanh như gió thoảng, như chưa nói được gì với nhau.
Đường
lên Tây Bắc núi trập trùng mờ xa, câu hát thuộc
nằm lòng để thấy nơi đến thật là
cách trở xa xôi, cứ tưởng là đi sẽ lâu
lắm mới tới , thế mà khi trở về tôi mang cảm giác chưa nhìn rõ mặt
Tây Bắc. Thôi, đành để câu trả lời
nằm trong chuyến đi tiếp theo, hy vọng
sẽ được nhìn thấy Tây Bắc theo cách
riêng.
Điện Biên 26 /2/2014.
Tranh luận và tôn trọng khác biệt để nhận ra lẽ phải là cơ sở cho một sự nhìn nhận thống nhât đúng nghĩa. Nó làm thành một phần của đời sống văn hóa nói chung, thi ca nói riêng.
Luận văn đề cập đến chính trị khi đề cập đến mối quan hệ tương tác của văn hóa và chính trị (như ở phần mở đầu tác giả đã lưu ý). Nếu một luận văn khoa học về văn hóa mà không chỉ ra được thực chất tương tác văn hóa – chính trị để góp phần giải quyết các vấn đề thực tế thì nó có ý nghĩa gì và khi đó ta có coi nó đáp ứng các yêu cầu khoa học không? Một tương tác có thể thuận, có thể nghịch, có thể vừa thuận, vừa nghịch. Nếu luận văn vạch ra điều không thuận thì tự thân nó có ý nghĩa khuyến cáo các nhà lãnh đạo, các nhà quản lý phải điều chỉnh đường lối hay phương pháp quản lý văn hóa. Xin nhìn nhận vấn đề này theo quan điểm của người làm khoa học để tránh phiến diện, ngộ nhận đi đến quy chụp đáng tiếc. Có như vậy thì nền văn hóa nói chung, thi ca nói riêng mới phát triển đi lên được.
Luận văn nhìn nhận và đánh giá một hiện tượng thi ca mới, bên cạnh thái độ phê phán, đã phát hiện yếu tố “nổi loạn”, cách tân của nó như một tác nhân thúc đẩy phát triển nền thi ca Việt nam tù đọng. Tác giả cho rằng hiện tượng này đã quật một đòn làm “tung tóe” thứ thi ca nhàm nhạt đang thịnh hành. (Tôi bỗng nhớ đến cuộc tọa đàm về thơ “thiền”, thơ “nhập đồng” của ông Hoàng Xuân Thuận do Hội Nhà văn Việt nam tổ chức).
Xin các bạn hãy nhìn lại toàn bộ nền văn học và thi ca Việt nam (nói riêng) và văn hóa Việt nam (nói chung) đương đại và chuẩn định nó, nhận xét nó trong các mối quan hệ ở thời đại toàn cầu hóa, từ đó bạn có một so sánh nhất định với các nền văn hóa và văn học khác, bạn sẽ thấy ý nghĩa thực của luận văn.
Tôi mạo muội có ý kiến vậy.
Trước hết là vấn đề Nhã Thuyên.
Câu chuyện ở đây không phải cái luận văn ấy hay hay dở, có tính chính trị hay không. Vấn đề là cách hành xử xã hội. Xã hội chúng ta đang sống là xã hội thế nào? xã hội của một tập đoàn thống trị hay xã hội dân chủ? Tất cả chúng ta đều biết xã hội này là xã hội dân chủ, theo đúng các loại hiến pháp, luật pháp, chủ trương, chính sách hiện hành và những thông tin lên báo chí là thế.
Hãy xem người ta đã hành xử thế nào:
- Trong cuộc “họp hội đồng khoa học khoa (mở rộng)”, “Không ai ở hội đồng chấm luận văn Nhã Thuyên năm 2010 được mời”. Đây là điều cần phải thắc mắc bởi vì xử lý một vấn đề cần phải có mặt những người liên quan. Ở một đất nước dân chủ mà xử vắng mặt thế à?
- “cuộc họp của hội đồng khoa học cấp trường, gồm các giáo sư đương nhiệm và các trưởng đơn vị. Thành”. Đây là cũng là vấn đề cần xem xét bởi cuộc họp chỉ có 3 người có chuyên môn văn học. Nghĩa là về tư cách khoa học chuyên môn chỉ 3 người ấy có quyền quyết định. Ấy thế mà “số vị khác cho rằng luận văn nghiên cứu một đối tượng không xứng đáng và có cái nhìn cực đoan”. Họ có tư cách để nói về “đối tượng” thuộc văn học là “xứng đáng” hay không chăng? có tư cách để nói về “cái nhìn” trong văn học là “cực đoan” hay không chăng? Nếu nói chuyện ngoài quán bia thì vô tư, các bác ý kiến thoải mái. Nhưng ở đây là hội đồng khoa học thì ít nhất các vị ấy phải có bằng cấp từ thạc sỹ trở lên, chuyên ngành gần với văn học. Vậy thì đây là cuộc họp về chính trị hay về khoa học chuyên môn?
- “ngày 27/3/2014, trên blog của mình, Nhã Thuyên thông báo về việc cô bị Phòng Sau ĐH của Trường ĐH Sư phạm Hà Nội mời đến để nhận các quyết định thu hồi bằng và hủy luận văn thạc sĩ.” nhưng bản thân cô chưa được cung cấp các thông tin “như hội đồng chấm, các biên bản nhận xét của hội đồng, v.v”. “Cô đề nghị được cung cấp thông tin về các giấy tờ và hồ sơ có thể kèm theo như biên bản thành lập hội đồng thẩm định, các nhận xét của từng thành viên hội đồng, v.v… nhưng không được đáp ứng.”
Bây giờ đặt ra hai tình huống về LV của cô Thoan:
1) “đề tài có thể nghiên cứu được, luận văn không có sai phạm về động cơ chính trị…” như biên bản mà “hội đồng khoa học khoa (mở rộng)” của khoa Ngữ Văn đã họp và kết luận. Thế thì các quyết định “thu hồi bằng”, “huỷ kết quả luận văn thạc sĩ” là căn cứ vào đâu?
2) “luận văn nghiên cứu một đối tượng không xứng đáng và có cái nhìn cực đoan”. Khi ấy việc xử lý phải bao gồm xử lý toàn bộ thành viên hội đồng bảo vệ LV ấy vì đã chấm thế nào để một “luận văn nghiên cứu một đối tượng không xứng đáng và có cái nhìn cực đoan” lại đạt xuất sắc? Và khi ấy phải tạo điều kiện để cô Thoan nghiên cứu một đề tài khác, làm một luận văn khác thay thế luận văn đã huỷ. Lý do là trong khi học, cô Thoan không vi phạm gì, vậy kết quả học tập là được chấp nhận. Sai phạm trong luận văn là sai phạm chung của người hướng dẫn và hội đồng chấm. Nếu ngay lúc đó hội đồng chấm đã nhìn ra cái không được trong LV của cô Thoan thì cô vẫn còn được gia hạn làm LV (đúng luật). Mà cái sai của hội đồng là cái sai của trường SP1, vì hội đồng là của trường. Do đó nhà trường phải chịu trách nhiệm khi đã thu phí đào tạo của học viên mà lại cung cấp cho học viên một hội đồng không xứng đáng. Thế thì đi kèm quyết định thu hồi bằng, quyết định huỷ luận văn phải là quyết định xin lỗi của nhà trường với cô Thoan (về dịch vụ cung cấp cho cô quá tồi gây ảnh hưởng xấu đến danh tiếng, sự nghiệp hoặc chí ít là mất thời gian của cô) và quyết định gia hạn làm luận văn cũng như cung cấp đủ điều kiện để cô Thoan làm luận văn, bảo vệ luận văn (để bồi thường).
Nếu chẳng làm nổi như thế thì đúng là “sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi”.
Tôi đã đọc rất rất rất là nhiều LV về phương pháp giảng dạy học sinh phổ thông của nhiều trường đào tạo giáo viên như SP1, SP2, QGHN, … Rất phổ biến là nghiên cứu bằng thực nghiệm về một phương pháp giảng dạy nào đó. Cách tiến hành là người ta thực hiện trên hai lô để đối chứng. Trước hết kiểm tra để đánh giá mức độ đầu vào của hai lô là ngang nhau. Sau đó, một lô vẫn giảng dạy bình thường và lô kia thực hiện giảng dạy bằng một phương pháp mới. Cuối cùng lại kiểm tra và nhận thấy phương pháp mới có tác dụng tích cực đối với >10%. Có mấy vấn đề thế này cần phải lên tiếng:
- Không có luận văn nào ghi lại rằng trước khi tiến hành thực nghiệm đã được sự đồng ý của người bảo trợ (các học sinh phổ phông hầu hết < 18 tuổi). Điều đó khẳng định người nghiên cứu là không nghiêm túc; thiếu những hiểu biết căn bản về việc nghiên cứu với đối tượng là người, nhất là trẻ em; thiếu tôn trọng hội đồng chấm luận văn và đã phạm pháp (vi phạm quyền bảo vệ trẻ em). Gián tiếp chỉ rõ các thành viên hội đồng chấm những LV ấy là thiếu hiểu biết hoặc vô trách nhiệm.
- Không có luận văn nào ghi lại dự kiến tỉ lệ thành công trước khi thực nghiệm cũng như dự trù biện pháp khắc phục hậu quả nếu thực nghiệm thất bại, cũng không dự trù biện pháp khắc phục cho những học sinh vì không phù hợp với phương pháp mới mà kết quả học tập giảm sút. Điều đó rõ ràng là nếu thành công thì danh dự thầy hưởng, nếu thất bại thì hậu quả học sinh và gia đình tự chịu. Cho thấy người nghiên cứu là cực kì vô trách nhiệm. Gián tiếp khẳng định các thành viên hội đồng chấm những LV ấy là thiếu hiểu biết và vô trách nhiệm.
- Hai tình huống về thời gian của quá trình thực nghiệm:
+ Thời gian thực nghiệm ngắn. Như vậy tác động đến học sinh của phương pháp mới so với các tác động khác là chưa đủ mạnh để nhận ra kết quả qua thống kê. Bởi rất có thể học sinh nhóm ấy nhiều người học khá lên nhờ tác động từ môn học khác có liên quan chứ không phải từ trong chính môn học ấy. Chẳng hạn học sinh khá văn hơn nhờ học ngoại ngữ, học sinh khá toán hơn khi phải làm nhiều về vật lý, … Tức là một cái ngẫu nhiên chứ không phải cái tất yếu.
+ Thời gian thực nghiệm dài. Như vậy là một khoảng thời gian dài giáo viên (người đang nghiên cứu, làm luận văn ấy) chỉ thực hiện một phương pháp để giảng dạy trong khi học sinh thay đổi hàng ngày (tâm lý, sinh lý, sở thích, …). Đây là điều mâu thuẫn với những kiến thức căn bản nhất về giáo dục, giảng dạy.
Vấn đề là không LV nào chỉ ra rằng thời gian thực nghiệm là đủ dài để kết quả thể hiện qua thống kê, cũng như đủ ngắn để không bị lạc hậu so với sự thay đổi của học sinh. Điều đó thể hiện những LV ấy không chặt chẽ. Qua đó gián tiếp bộc lộ sự thiếu sót về năng lực, trách nhiệm của các thành viên của những hội đồng chấm những luận văn ấy.
- Một điều nữa là các luận văn ấy không khẳng định những mẫu thực nghiệm ấy là ngẫu nhiên. (nếu cho rằng cứ chọn tuỳ ý nhóm từ 30 học sinh trở lên sẽ được mẫu ngẫu nhiên thì đã là không hiểu gì.) Vì thế không đủ căn cứ kết luận ảnh hưởng của phương pháp. Nhưng những luận văn ấy vẫn cứ kết luận rất chủ quan.
Ấy vậy mà những LV ấy vẫn bảo vệ thành công, thậm chí có cái điểm 10 luôn, thì nên nghĩ thế nào về những đơn vị đào tạo, về các Ngài chức sắc trong cái chuyện ngành ấy?
Đó. Nếu quả thật muốn "thu hồi bằng + huỷ luận văn" thì có nhiều việc để làm lắm đấy. Có dám làm không? Hay là chỉ vì thanh trừ mà đem cái LV của Thoan ra để bới, biến Thoan thành con cờ thí trên bàn đấu quyền lực, địa vị?