Thứ Bảy, 5 tháng 4, 2014

BÀI LẤY VỀ TỪ TRÊN CÁC TRANG MẠNG _ ĐỌC ĐỂ HIỂU THÊM

Sau khi Học Thế Nào đăng bài Kỳ án Nhã Thuyên, một số bạn đọc mà họ là những nhân vật chứng kiến ít nhiều một số sự kiện liên quan gửi thư tới nhóm biên tập với mong muốn nói lại, nói thêm hoặc bổ sung một số chi tiết mà bài viết đề cập. Học Thế Nào tổng hợp các ý kiến này thành bài viết ngắn dưới đây:
Về sự kiện ngày 27/7/2013
Sau loạt bài phê phán trên báo chính thống, lãnh đạo trường chỉ đạo Ban Chủ nhiệm Khoa Ngữ văn triệu tập họp hội đồng khoa học khoa (mở rộng) chứ không phải hội thảo khoa học như được gọi tên trong bài viết “Kỳ án Nhã Thuyên”. Học Thế Nào xin đính chính lại chi tiết này.
Thành phần mở rộng là các giáo sư đã nghỉ hưu, thêm PGS TS Lê Quang Hưng, Chủ nhiệm Khoa Việt Nam học, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội, tham gia với tư cách phản biện. Không ai ở hội đồng chấm luận văn Nhã Thuyên năm 2010 được mời. PGS TS Nguyễn Thị Bình được mời với tư cách là thành viên hội đồng khoa học của khoa. Tất cả bốn vị Ban Giám hiệu Trường ĐH Sư phạm Hà Nội có mặt.
Tại cuộc họp, PGS TS Nguyễn Thị Bình giải trình ngắn gọn một số nội dung, cụ thể:
1/ Nghiên cứu những hiện tượng của đời sống văn học đương đại là nhiệm vụ của Bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại.
2/ Luận văn được thực hiện đúng quy trình theo những quy định ở thời điểm đó.
3/ Người hướng dẫn làm việc với học viên theo tinh thần đối thoại chứ không áp đặt.
Sau trình bày của PGS TS Nguyễn Thị Bình là phần nêu ý kiến của ba phản biện (tại cuộc này gọi là ¨đọc sâu¨): GS TS Trần Đăng Xuyền, PGS TS Lê Lưu Oanh, PGS TS Lê Quang Hưng.
Sau phần “đọc sâu”, rất nhiều người đã phát biểu sau đó. Có những va chạm được cho là khá gay gắt xung quanh các tiêu chí thẩm mĩ, và cuối cùng vẫn nhất trí ghi vào biên bản kết luận là: đề tài có thể nghiên cứu được, luận văn không có sai phạm về động cơ chính trị…
Khoảng một tuần sau lại có cuộc họp của hội đồng khoa học cấp trường, gồm các giáo sư đương nhiệm và các trưởng đơn vị. Đại diện Khoa Ngữ Văn chỉ có Chủ nhiệm khoa PGS TS Đỗ Hải Phong. GS TS Trần Đăng Xuyền và PGS TS Lê Quang Hưng vẫn là  hai trong số ba vị tham gia với vai trò phản biện. Trong cuộc họp này đã có sự tranh luận gay gắt. Sau khi PGS TS Đỗ Hải Phong đọc kết luận của Hội đồng Khoa học Khoa Ngữ Văn thì có hai luồng ý kiến trái chiều. Một số vị cho rằng chỉ hội đồng chuyên môn mới đủ thẩm quyền phán xét và đề nghị hội đồng khoa học cấp trường tôn trọng các kết luận đã có. Một số vị khác cho rằng luận văn nghiên cứu một đối tượng không xứng đáng và có cái nhìn cực đoan.
Về việc bổ nhiệm Trưởng bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại
Trong cuộc thăm dò ý kiến do Ban Chủ nhiệm Khoa Ngữ văn thực hiện, TS Chu Văn Sơn đạt 8/9 phiếu đồng thuận. Nhưng trường lại ra quyết định bổ nhiệm PGS TS Vũ Thanh (chuyên gia phần Văn học Việt Nam Trung đại, lúc đó là Phó Chủ nhiệm Khoa Ngữ Văn) phụ trách bộ môn dù gặp phải sự phản ứng mạnh mẽ của các cán bộ giảng dạy. Về sau, PGS TS Vũ Thanh cũng từ chối nhiệm vụ này và ngay lập tức xin chuyển cơ quan. Hiện nay PGS TS Vũ Thanh là Phó Viện trưởng Viện Văn học.
Về việc dạy chuyên đề Văn học Việt Nam ở hải ngoại
Xung quanh việc dạy chuyên đề VHVN ở nước ngoài, có những diễn biến khá phức tạp, không hoàn toàn đơn giản như một đôi câu tóm tắt trong bài viết “Kỳ án Nhã Thuyên”.
Cách đây khoảng 5 năm, khi mà GS TS Trần Đăng Xuyền còn là Phó hiệu trưởng Trường ĐH Sư phạm Hà Nội và thầy Lã Nhâm Thìn còn là trưởng Khoa Ngữ Văn, nhà trường tổ chức xây dựng lại chương trình khung theo học chế tín chỉ. Với sự tham vấn của một số giáo sư, chương trình của Khoa Ngữ Văn có thêm  một số chuyên đề, trong đó có chuyên đề Văn học Việt Nam ở nước ngoài. Đến nhiệm kỳ PGS TS Đỗ Việt Hùng làm Chủ nhiệm khoa Ngữ Văn thì chương trình được đưa ra thẩm định ở hội đồng khoa học khoa và hội đồng đã chấp nhận đề xuất này và trình lên Ban Giám hiệu nhà trường. Khoa Ngữ văn giao cho Bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại phụ trách chuyên đề này và năm 2010 là năm đầu tiên thực hiện. Vì thuộc hệ thống chuyên đề tự chọn nên nó được quay vòng 2 năm/lần. Vì thế đến 2012, nó tiếp tục được giảng dạy cho sinh viên. Trưởng Bộ môn là PGS TS Nguyễn Thị Bình đã phân công 3 cán bộ, giảng viên dạy đồng thời ba lớp: TS Nguyễn Phượng, TS Đặng Thu Thuỷ, Th.s Đỗ Thị Thoan. Nội dung và cách thức lên lớp chuyên đề này được thống nhất thực hiện trong nhóm 3 cán bộ, giảng viên này. GS TS Trần Đăng Xuyền tuy là Phó Hiệu trưởng nhưng có thể vì bận công tác lãnh đạo, GS không có điều kiện quan tâm tới hoạt động chuyên môn tại khoa nên không hề biết có việc này.
Sau khi đến tuổi nghỉ quản lý, GS TS Trần Đăng Xuyền tiếp tục giảng dạy tại Bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại, Khoa Ngữ Văn. Khoảng đầu tháng 4/2013, Bộ môn Văn học Việt Nam tổ chức xêmina về chuyên đề Văn học Việt Nam ở hải ngoại. Sau khi TS Nguyễn Phượng đại diện cho nhóm trình bày báo cáo (có sự bổ sung của TS Đặng Thu Thuỷ và Th.s Đỗ Thị Thoan, GS TS Trần Đăng Xuyền bày tỏ sự ngỡ ngàng. GS Trần Đăng Xuyền phản đối, cho rằng không nên quan tâm mảng này. Các cán bộ, giảng viên trong bộ môn giải thích cho GS Trần Đăng Xuyền rằng, học phần này nằm trong chương trình khung do chính Trường ĐH Sư phạm Hà Nội ban hành, nhiệm vụ của Khoa Ngữ Văn hiện giờ là nghiên cứu, giảng dạy tốt học phần đó chứ không còn là lúc bàn bạc chuyện nên hay không nên.
GS Trần Đăng Xuyền cho rằng cho dù chương trình khung là của trường ban hành nhưng việc đề xuất chắc phải là của Bộ môn. Sau đó GS Trần Đăng Xuyền còn chất vấn ai là người đầu tiên nêu ý tưởng? PGS TS Nguyễn Thị Bình khẳng định bản thân bà chưa bao giờ đưa ra đề xuất này, tuy nhiên bà bỏ phiếu ủng hộ khi nó được thảo luận ở hội đồng khoa học của khoa. Và khi được Ban Chủ nhiệm khoa giao nhiệm vụ, bộ môn đã tiến hành tổ chức nghiên cứu và giảng dạy.
Theo lý lẽ của GS Trần Đăng Xuyền, nhiệm vụ cơ bản của Trường ĐH Sư phạm Hà Nội là trường đào tạo nghề nghiệp, theo đó phạm vi nội dung kiến thức được đưa vào giảng dạy ở Khoa Ngữ Văn chỉ nên bó hẹp ở những kiến thức được đưa vào giảng dạy trong trường phổ thông. Tuy nhiên, lý lẽ này không thuyết phục được các cán bộ, giảng viên của bộ môn. Có cán bộ còn dẫn nội dung Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài và cho rằng, việc đưa học phần Văn học Việt Nam ở hải ngoại vào giảng dạy tại Khoa Ngữ Văn Trường ĐH Sư phạm Hà Nội là phù hợp chủ trương của Đảng. Do chỉ là một buổi sinh hoạt chuyên môn nên không có kết luận. Nhiều cán bộ, giảng viên chỉ nghĩ rằng những trao đổi trong buổi sinh hoạt chỉ là những va chạm quan điểm có tính học thuật thông thường nên vẫn tiếp tục tổ chức và thực hiện nhiệm vụ giảng dạy học phần Văn học Việt Nam ở hải ngoại cho sinh viên.
Các ghi chép phía trên của chúng tôi có thể có những sai sót nhỏ ở chi tiết, nhưng đại thể sự việc được chúng tôi ghi lại trung thực theo các thông tin tin cậy có được.
Về các dư luận ngoài lề khác, theo chúng tôi là hơi nặng “thuyết âm mưu”, nhưng cũng xin ghi lại dưới đây.
Theo dư luận ở Khoa Ngữ văn Trường ĐH Sư phạm Hà Nội, những cán bộ phản đối việc dạy học phần Văn học Việt Nam ở hải ngoại nghi ngờ PGS TS Nguyễn Thị Bình chính là người đầu tiên đề xuất đưa học phần này vào chương trình khung; và động cơ của đề xuất nhằm “kéo” Nhã Thuyên về giảng dạy tại khoa. Thậm chí, một số đồn đoán thỉnh thoảng còn được “tung” ra trong dư luận ở khoa, rằng rằng PGS TS Nguyễn Thị Bình và Nhã Thuyên có “quan hệ mờ ám” với người nước ngoài.
 Đường link dẫn tới Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài:
 Học Thế Nào.
Tagged as: 

12 phản hồi »

  1. Cương lĩnh Đãng : Trí phú địa hào , đào tận gốc trốc tận rễ …. huhuhu
    HTN: Bác cứ viết sai chính tả thế này, chắc phải chặn nick bác mấy hôm thôi.
  2. Xin phép chép về blog của mình ngay, đề phòng sự cố.
  3. Em góp ý tí ạ! Ông Trần Đăng Xuyền vì lí do nào đó đã đổi tên thành Trần Đăng Suyền từ hơn chục năm nay rồi ạ! Về chuyện bầy hầy ông ấy bày ra thì lâu nay có câu hát: “Đường vinh quang xây xác bạn bè” ạ!
  4. Ông Xuyền /Suyền này có viết cuốn “Nhà văn hiện thực đời sống và cá tính sáng tạo” nhưng đọc vào thì chẳng thấy “cá tính sáng tạo” đâu cả. Hèn gì mà thấy Nhã Thuyên sáng tạo ông ta đã hoảng lên. Hôm nay biết được ông ta làm đến Phó hiệu trưởng trường đào tạo giáo viên ở thủ đô nữa. Ôi chao “đường vinh quang xây xác bạn bè” nếu đúng như vậy thì kinh khủng quá. Dân văn chương, dân nghiên cứu khoa học mà như thế sao giáo sư Suyền/Xuyền ơi? Nhã Thuyên suy cho cùng là học trò ông thôi mà. Ở đây không nói chuyện tình cảm vấn đề là hình như ở xứ này “mấy cụ” không hiểu hay cố tình không chịu hiểu 1 điều rất đớn giản là “Trò mà hiểu biết hơn Thầy thì đó là Đại Phước của quốc gia”. Mấy cụ cứ hô hào đổi mới giáo dục nhưng tư duy của mấy cụ thì nó cổ hủ không chịu được. Lại thêm nếu biết mình thua kém người khác về tài năng thì bắt đầu giở trò “chính chị chính em”. Cho nên cuối cùng Tài không có mà Đức cũng chẳng thấy đâu. Vậy nhưng không hiểu sao vẫn cứ lên làm lãnh đạo. Suy cho cùng bi kịch của đất nước Việt, dân tộc Việt mấy mươi năm qua (dự báo còn kéo dài nữa) là ở chỗ này.
    HTN: Dù thế nào đi chăng nữa, mong quý vị hạn chế tối đa đả kích cá nhân!
    • Bi kịch của đất nước Việt, dân tộc Việt là họ không chịu chơi thể thao, bác Rất là buồn ạ, mà họ chỉ thích dùng tiền ấy để xây bệnh viện thôi. Tất nhiên là ngồi ì một chỗ hoài nó sinh bệnh ra chứ sao, cho nên có xây thêm bệnh viện bao nhiêu cũng không đủ !
  5. Theo dõi vụ ” kỳ án Nhã Thuyên” này, tôi thấy chưa hẳn các thầy ở trường ĐHSP I Hà Nội đã là người chủ trương việc ” diệt” Nhã Thuyên hay PGS-TS Nguyễn Thị Bình mà chỉ bị sức ép buộc phải làm vậy thôi.Dù sao thì làm như thế cũng là không phải, nếu không nói là hèn, nhất là ở thời điểm năm 2013-2014 chứ không phải những năm cuối thập kỷ 5- hoặc 70 thế kỷ trước!Còn, nếu các vị trong Hội đồng khoa học của Trường mà có văn bản đánh giá luận văn của NT theo ý của ai đó ( không trên tinh thần học thuật) thì đáng phải xem lại về nhân cách.
    Cá nhân tôi rất đồng tình với ý kiến giải trình của PGS-TS Nguyễn Thị Bình và PGS-TS Ngô Văn Giá. Nhóm ” Mở miệng” là một hiện tượng văn học đương đại, cho dù những sản phẩm thơ (tôi dùng chữ “sản phẩm” chứ không gọi là ” tác phẩm” là thể hiện ý cá nhân coi thường loại thơ này cũng như thứ thơ ” hậu hiện đại” tắc tỵ, nhố nhăng nhân danh cái gọi là ” cách tân” thơ của vô số tác giả hữu danh khác) của nhóm này không có bao nhiêu giá trị thì nó cũng là một thực tế khách quan đã và đang tồn tại, phản ánh tâm trạng bế tắc, muốn ” nổi loạn” của một bộ phận người trong xã hội hiện nay. Do vậy, nghiên cứu về hiện tượng văn học này là cần thiết ( khen hay chê, đồng tình, ủng hộ hay phản bác lại là chuyện khác). Đối với một người trẻ, mới bước vào đời, vào nghề như NT lại càng đáng biểu dương vì đã dám dũng cảm đột phá vào một cái mới chứ không đi theo lối mòn. Nếu muốn “an toàn” để lấy một cái bằng thạc sĩ cho đủ chuẩn làm giảng viên, NT hoàn toàn có thể chọn đại một trong số tác giả nào đó đang là hội viên HNV VN hiện nay để làm luận văn, cho dù thơ của vị đó không hơn thơ của một CLB thơ cấp phường, xã.
    Ai nói NT nghiên cứu về một đối tượng không xứng đáng thì cứ thử lục “kho” luận văn tiến sĩ của ta xem có bao nhiêu luận văn vô bổ? Tôi dám chắc nếu công bố công khai các luận văn tiến sĩ thuộc các lĩnh vực văn học, sử học, kinh tế-chính trị học, luật học, hành chính, an ninh-quốc phòng…thì vô số người sẽ đứt ruột vì chết…cười! Cái nạn ” tiến sĩ giấy” mà cả xã hội đang lên án là một thực tế không thể chối cãi. Những GS-TS ấy nếu là người còn chút tự trọng chắc sẽ rất xấu hổ trước NT!
    Chỉ có điều đáng tiếc là các thầy trong Hội đồng chẩm luận văn đã cho NT điểm 10 sao bây giờ không dám lên tiếng bảo vệ quan điểm của mình (trừ PGS-TS VG). Im lặng trong trường hợp này không phải là cách hành xử đúng đâu ạ!
    P/S: Không biết trong vô vàn luận văn thạc sĩ, tiến sĩ văn học đã bảo vệ thành công hoặc đang được thực hiện, có luạn văn nào nghiên cứu về hiện tượng nảy nở như nấm mùa xuân của các cụ về hưu ở các CLB thơ phường, xã, của anh chàng buôn thơ mà vừa rồi ồn ĩ dư luận hay cái CLB Thơ Việt Nam của ông Bành Thông từng hiên ngang tiến hành đại hội ở Hội trường Ba Đình? Cũng đáng nghiên cứu đấy chứ!
    • Đến thời điểm này tôi gần như sắp “ngộ” về kì án NT này, và đã tìm đọc cả LV (nghĩa là đọc được kha khá tác phẩm của Mở Miệng), cả các bài phê bình tiêu diệt nó, bảo vệ nó và thậm chí cả những bản nhận xét của hội đồng phản biện 1 (đã cho chị điểm 10). Nếu chưa đọc những thứ này thì ý kiến cá nhân dễ bề trở nên võ đoán.
      Cái đối tượng nghiên cứu của chị NT bị các nhà phê bình chỉ trích chủ yếu ở 2 khía cạnh:
      - Thơ của nhóm Mở Miệng là thơ để làm chính trị, mang hơi hướng chống đối: chẳng hạn giải thiêng hình tượng Bác Hồ, chống đối chế độ XHCN, chấm ba chấm.
      - Là thơ rác, thơ nghĩa địa…khi dùng quá nhiều từ có tính chất tục tĩu quá đáng, gây phản cảm…
      Anh cho rằng LV của chị nghiên cứu đối tượng xứng đáng thì anh thử phản biện lại 2 luận điểm đó xem ạ?
      • Vấn đề không phải ở LV cô NT mà ở cách hành xử xã hội, cụ thể là của trường SP1.
  6. Tôi đã mất 2 buổi chiều để đọc tất cả những nội dung liên quan đến “Kỳ án Nhã Thuyên”. Tôi không phải là người thích viết những cảm xúc sau mỗi bài viết, nhưng vì vấn đề này hấp dẫn tôi và làm tôi đau đáu về nó nên tôi muốn chia sẻ một số ý kiến như sau:
    1) Về nhóm “Mở Miệng”
    Cứ tạm xem những gì mà nhóm mở miệng xuất bản là “thơ” thì trong thơ của họ có rất nhiều từ tục. Lúc mới đọc tôi thấy “ghê ghê”, nhưng tôi lại bị nó lôi cuốn đọc cho hết bài. Bởi chính tôi, từ khi biết nói, tôi không bao giờ nói ra (viết ra) những từ đó và tôi dường như không thể nói. Khi đọc những phỏng vấn của Nhã Thuyên với nhóm, tôi thấy họ trao đổi rất thật, rất nghiêm túc về nghệ thuật và đam mê và họ theo đuổi, có lẽ họ chỉ sử dụng chúng khi “làm thơ” và họ xem những từ đó là tột cùng của cảm xúc. Bây giờ lại tôi không còn thấy ghê khi đọc chúng, nhưng nói ra các từ tục đó … thì tôi vẫn không thể.
    2) Về Nhã Thuyên
    Trước tiên là tôi rất phục cô ấy, vì một người con gái “thông thường” thì họ rất ngại (thường là không) nói về các vấn đề nhạy cảm đó, cô ấy có cá tính rất mạnh. Cô ấy muốn “cảm” cuộc sống từ nhiều nguồn và không theo một khuôn khổ mà “người ta” quy định (là nữ thì không được nghĩ như thế, nói như thế; làm thơ, đọc thơ là không được chọn những đề tài như thế….) Có thể nói cô ấy đang “cháy” trong cuộc sống.
    3) Hành xử của một số GS
    Thật ra, nếu chúng ta cảm thấy luận văn bàn về vấn đề nhạy cảm, không phù hợp với “văn chương” không phù hợp “khoa học” thì có thể yêu cầu rút khỏi thư viện của trường, nhưng phải cho nó tự do như một chính kiến khoa học để mọi người có quyền tự do ngôn luận. Luận văn này tự bản thân nó chẳng làm hại ai, chẳng làm hại nền văn học nào, cũng chẳng làm hại nền chính trị nào. Chỉ khi ta cho nó là như thế thì nó sẽ trở nên không là nó nữa. Còn bản thân người dạy đã có sự kiểm định của Sinh viên, của Khoa, của trường, khi nào có đơn tố cáo thì hãy điều tra và hành xử (..)
    4) Cô ấy xứng đáng đứng trên bục giảng, nhưng tôi vẫn xin cô ấy đừng đem luận văn mình đi dạy. Hãy nói những gì cô ấy thích nói ở đâu cũng được (trừ bục giảng). Vì tôi vẫn mang một ý niệm là “không phải điều nào cũng nói được bất cứ đâu”.
    • Đồng ý với anh ở các điểm trên, vì bản thân tôi vẫn quan niệm những gì thuộc về giáo dục nói riêng và văn học nói chung thì vẫn phải có những chuẩn mực nhất định. Rõ ràng NT là một người nghiên cứu văn học có tiềm năng, tâm huyết và có năng lực lý luận (tôi đang đọc luận văn của chị). Tôi chỉ băn khoăn cái quy trình: đề cương luận văn của chị ắt phải được thông qua trước khi chị bắt tay vào làm LV, tức là đề tài đã được duyệt, chị thậm chí đã được hội đồng chấm điểm 10 và nhờ đó trở thành giảng viên của khoa, vậy mà chỉ một số ý kiến phê bình của một số học giả trên báo chí đã đủ (?) tạo sức ép để một trường ĐH uy tín quay ngoắt 180 độ những quyết định trên. Thật khó hiểu, và tôi tự hỏi: LV của chị hay scandal về nghiên cứu học thuật trên sẽ ảnh hưởng đến tâm lý và tư duy của người làm khoa học về sau hơn?
      • “vậy mà chỉ một số ý kiến phê bình của một số học giả trên báo chí đã đủ (?) tạo sức ép để một trường ĐH uy tín quay ngoắt 180 độ những quyết định trên”
        Không phải chỉ là một số ý kiến phê bình đâu chị à, mà có lẽ có sự can thiệp sâu của một số cơ quan chức năng. Biết rằng với Nhã Thuyên và một số người liên quan đây là một bài học, nhưng học phí quá đắt. Tôi cũng học được một điều qua vấn đề này là: “Điều gì mà ta nói nhiều về nó quá cũng không hay”. Có lẽ là Nhã Thuyên tâm đắc về LV của mình mà nói nhiều về nó chăng?

Thứ Tư, 2 tháng 4, 2014

THÁNG TƯ NĂM HAI KHÔNG MƯỜI BỐN


                                                        
 
                                                              Thơ: Phan Mai Hương
                                               ( Kính tặng người làm nghề thầy)
Có một tháng Tư  xưa con  còn nhớ
 Mẹ đi tìm Nội  mướt mát tượt mồ hôi
 Nội  trở về bằng nắm đất đen  thôi.
Từ năm Bốn Lăm sao còn được nữa?

Tháng Tư nóng trong cành dâu, sọ quả
Con cháu  nghi ngờ,  thì mẹ  tỉnh bơ .
Mẹ vồ lấy, thản nhiên  bới nhặt nhạnh
 Xây niềm tin cho con cháu mai sau

Con sợ hãi nhưng buộc phải  tin mẹ
Vì con biết tin vào ai đây?
Và không biết rồi ngày mai đây?
Mọi thứ sẽ ra sao,  mình còn hay mất?

Tháng Tư năm Hai không mười bốn
 Đang mùa xuân nhưng giông gió  bất ngờ.
Con  sợ hãi một tháng Tư lặp lại.
Con cháu lại mải miết đi tìm?
31.3.2014
 Mình viết bài thơ này, hy vọng  cho Tháng Tư nhẹ nhàng hơn, với  người mình yêu quý.

Thứ Hai, 31 tháng 3, 2014

CÙNG TÂY BẮC MÙA XUÂN


                                                  Tùy Bút : Phan Mai Hương
  Mùa xuân bắt đầu  cho chu trình tái sinh, và   không gian  ấm áp  thì  buông  lời mời gọi tới những  miền xa xôi . Nhưng nếu mùa xuân là lập  trình sẵn của tạo hóa, thì chuyến đi của chúng tôi hoàn toàn là ngẫu hứng.
   Một lần đón bạn  văn chương đi  qua cửa ngõ lên  Tây Bắc, hoặc cùng  ly  ca fe đen kèm nhạc Trịnh để  trốn cơn gió bấc cuối mùa, cũng đủ làm cho ham muốn xê dịch trỗi dậy. Nắng lên là đi nhé, một lời hẹn phụ thuộc vào đất trời và  tưởng chừng  như vu vơ, thế mà thành một chuyến đi cùng mùa xuân. Thế mới biết, sự ham muốn xê dịch của người viết cũng như  hạt giống được ủ sẵn, chỉ còn đợi gió xuân ấm áp là đội đất ngoi mầm. Nhưng xét cho cùng  thì cái gọi là  ngẫu hứng ấy  đều nằm trong sự lập trình của cảm hứng với  tình  yêu bất tận cho  văn chương trải theo những chuyến đi  trên cung đường mùa xuân.
    Đêm Tây Bắc được  chờ trong  thấp thỏm, và ngày  Điện Biên  háo hức trong đợi mong, hình như thời gian trở nên dài hơn. Không chỉ riêng tôi rơi vào tâm trạng ấy.  Những mái đầu đã hoa râm ríu rít bên mái đầu xanh tóc, vô tư  kể lại  giấc  mơ đến nơi  xe đi rồi, mới  thấy  tất cả đều mang nụ cười  trẻ trung và  đầy  háo hức với chuyến đi xa gần nghìn cây số.  Chúng tôi hành quân lên Tây Bắc trong một sớm mùa  xuân mù mịt sương trắng đặc như sữa,  quấn quện quanh những khúc cua tay áo, đến nỗi hai  đầu xe gần chạm nhau mới nhìn ra, mỗi lần như thế đều như nghẹt thở,  và cảm giác  mây đẹp như  thơ cũng bị trôi tuột đi, bay theo mây là là ngả xuống vực sâu hun hút.  
      Nếu  cha anh xưa lên Tây Tiến chỉ có  “ áo rách vai, quần có vài mảnh vá” ( thơ Chính Hữu) để tìm hòa bình cho quê hương thân yêu,  thì  chúng tôi lên Tây Bắc  trong sự chuẩn bị đầy đủ áo dạ, khăn len chống rét  với niềm tin tìm lại bóng hình của một  thế hệ cha anh  đã đi qua trang sử của đất  nước. Trưởng đoàn công tác của chúng tôi  với nụ cười hiền lành trên ánh mắt,  nhưng lời nói thì kiên quyết và rõ ràng rằng “nghị quyết” của  chuyến đi là “ viết với chủ đề  kỷ niệm 60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, vì thế khi trở về câu trả lời phải  là tác phẩm”. Tôi biết anh  mộc mạc đầy trải nghiệm qua trang văn, và không kém phần tinh tế bay bổng qua thơ, nhưng trong tư cách Tổng biên tập  cho tờ báo, dường như anh muốn chúng tôi hiểu và chung  nỗi lo làm sao để  bài vở  hấp dẫn. Bạn viết hỏi đã có  ý tưởng nào  cho Tây Bắc chưa? Câu hỏi không chỉ riêng bạn mà   đang  là áp lực cho cả đoàn công tác, nên nghĩ  bạn  nói ra như một  cách xả xì chét thôi mà.
          Chưa kịp trả lời bạn thì xe đã  lọt thỏm vào vùng núi đá  trập trùng,  mắt liền dán vào  con đường uốn lượn quanh co, mải miết và kiên nhẫn  vượt núi chồng núi  lô nhô. Dường như để chúng tôi yên tâm, anh tài xế rất tự hào nói đã  có ba năm chạy xe  đường Điện Biên,  thế mà  khi  leo đèo Pha Đin cảm giác tay lái  vẫn vô cùng cẩn trọng. Buông mắt xuống vực sâu thăm thắm phủ trắng xóa mây mù ở xế bên cửa kính  để tưởng tượng nếu thả rơi,  xe chúng tôi chắc chỉ  là chiếc bánh ga tô nhỏ xíu tan biến  trong cốc sữa đặc.  Tưởng tượng một chút  để nghe tim đập mạnh hơn, để hình dung ngày xưa ấy  con đường mòn này  len lỏi trong rừng già, oằn lưng mang vác  bao nhiêu pháo, xe bọc thép, xe đạp thồ gạo lên Điện Biên . Những tượng đài tưởng niệm chiến thắng kỷ niệm  về con đường ra chiến trường thấp thoáng bên sườn đồi như nhắc nhở trang lịch sử thấm đẫm mồ hôi và máu của thế hệ cha anh. Thế hệ chúng tôi và  cả thế hệ sau nữa, sẽ thật khó mà hình dung ra sức mạnh của chiến tranh nhân dân, khái niệm này sẽ chỉ là những con chữ vô hồn khô khan  trên trang sách giáo khoa mà thôi, nếu không có một  lần lên Tây Bắc trên những cung đường hiểm trở như thế này. Lại thấy có  ý tưởng để viết về Điện Biên cũng  gian nan cho ngòi bút, không kém cha anh xưa từng  đã đưa vũ khí và lương thực vào chiến trường trên con đường này. Tôi nghĩ  đây là đề tài quá lớn, phần nữa là vì các cây bút đại thụ đều đã đến Điện Biên và  được tắm trong không khí nóng bỏng của thời khắc lịch sử. Tuy nhiên chúng tôi tiếp nhận lịch sử, nhưng vẫn hy vọng làm tươi mới Điện Biên theo cách riêng của mình.            
         Điện Biên là thành phố  phên dậu của miền biên cương, nắm vị trí địa đầu Tổ Quốc, chắc vậy nên cái gì cũng hứng chịu đầu tiên. Mà đặc sản phải kể đến là  món gió Lào vừa khô vừa nóng, từ sườn tây dãy Hoàng Liên ập xuống, thường xuyên ở ngưỡng 35, 36 độ. May quá, vì chúng tôi đi vào mùa xuân, nên cái nóng chỉ đủ để hâm nóng cảm xúc thôi, nhưng  chắc làm  nhớ lâu vì chỉ di chuyển mấy trăm cấy số mà được  đi qua mấy vùng khí hậu, từ  chỗ lạnh 7, 8 độ đến chỗ  nóng gần 30 độ, làm gì mà không ngỡ ngàng?
      Tôi ngỡ ngàng vì  Điên Biên mang sức bật của một thành phố trẻ. Tôi cảm nhận nét tươi trẻ này trong ánh đèn  đủ màu rực rỡ làm cho đêm thành phố trở nên lộng lẫy. Thấy  sắc màu đô thị qua bóng dáng  những siêu thị, cửa hàng, khách sạn đèn  thắp sáng trưng, lại nhớ có lần biết đêm ở Hải Phòng, đã  phải than là thành phố công nghiệp mà  thiếu sáng quá. Có nhiều khách sạn đang hối hả  hoàn thiện,  gạch ngói  từng đống vun gọn trên vỉa hè. Có nhiều khách sạn chắc vừa làm xong, tươi rói và bóng loáng  không một hạt  bụi, nom như thiếu nữ Thái đang tuổi dậy thì. Bà chủ khách sạn nơi chúng tôi ở vui vẻ kể chuyện về thành phố mà  làm  như chuyện trong nhà mình, rằng năm nay  thành phố có nhiều khách sạn to lắm, đợt tới này làm lễ kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ chắc không thiếu nơi ở; nghe nói sẽ làm to lắm, có cả duyệt binh của quân đội  nữa. Chả tin vào điều “ không thiều nơi ở”, vì hôm nay chúng tôi lên đây không trùng vào ngày lễ nào, chỉ trùng vào mùa xuân thôi mà còn nghe nói  khách sạn  hết phòng .  Ở các địa điểm di tích lịch sử Điện Biên, tôi nom thầy khá  nhiều du  khách là người  nước ngoài. Vậy thì đến tháng Năm, kỷ niệm 60 năm chiến thắng Điện Biên, chắc là các phòng khách sạn đã được  đặt kín chỗ  từ bây giờ. Vẻ đẹp của  thành phố nơi  biên cương này giống như công chúa ngủ trong rừng, vừa  trải qua một  giấc ngủ dài và được chàng hoàng tử đánh thức.
    Chưa  có ý niệm ngày lễ 60 năm chiến thắng Điện Biên được tổ chức to như nào, nhưng tôi chú ý đến lời của người phụ nữ tầm 65 tuổi, ngồi bán hàng lưu niệm bên cổng khách sạn,  giá  mà  Đại Tướng  Võ Nguyên Giáp còn   sống đến tháng Năm này  nhỉ? Nói rồi lại tự trả lời, nếu còn sống thì  Đại Tướng cũng khó mà di chuyển  được đến   Điện Biên ? Thế mới biết Đại Tướng Võ Nguyên Giáp không chỉ là  vị Tướng của quân đội Việt Nam, mà cao quý hơn còn là Vị Tướng của lòng dân. Tôi thấy người  dân Điện Biên nhắc đến  Đại Tướng như thể  người thân  trong gia đình, Điện Biên và Đại Tướng Võ Nguyên Giáp đã thành tượng  đài bất hủ trong lòng  dân tộc  Việt Nam. Chỉ mới  nghĩ thế thôi đã cảm nhận được niềm xúc động dâng lên, và bây giờ  nhân  dân Điện Biên mang cảm xúc của cả một  thế hệ người Việt Nam xưa  đã  hành quân lên Điện Biên,  quyết tâm chiến  thắng kẻ thù đói nghèo, giống  như lời hứa của Đại Tướng với Bác Hồ, trước  khi bước vào trận Điện Biên là phải đánh bại quân xâm lược.     
      Ngày lễ kỷ niệm 60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ chắc chắn đã  nằm trong đợi  chờ khắc khoải của những  thế hệ sinh ra sau chiến tranh. Không khí ngày lễ dường như đã tràn ngập thành phố biên cương. Tôi thấy mình  trôi miên man trong sắc đỏ rực rỡ của cờ và màu trắng tinh khôi của  hoa ban, biểu  tượng mùa xuân Tây  Bắc. Rồi lại miên man về một lễ  hội hoa ban mà thành phố  sắp mở, để rồi lại ước sao mình được nhìn thấy  khi hoa ban lễ hội  mở từng cánh trắng tinh khôi ngưng đọng hơi thở nồng nàn của  đất trời mùa xuân. Tôi thấy mình như bị sóng cuốn vào trong cái vòng xoáy hừng hực lửa nhiệt tình của hàng trăm các em sinh viên và các  chiến sĩ quân đội, phơi trong cái nắng gần 30 dộ để tập màn biểu diễn cho lễ hội ở sân vận động thành phố. Tôi chắc  là họ cũng như tôi,  mong được nhìn thấy trang sử oanh liệt hào  hùng  được tái hiện trên quê hương.
    Tôi ngỡ ngàng trôi  đi  trong cái  thành phố hiện đại mang  đầy màu sắc của những chiếc khăn piêu. Khăn piêu duyên dáng trong nhà hàng, khách sạn, cơ quan, nơi chúng tôi đến. Khăn piêu uyển chuyển trên phố với những sọt, ớp đựng  rau cải xanh rờn, cà chua đỏ ối, xoài vàng ươm nom đã muốn tứa nước miếng. Giọng trong veo,  dịu dàng, đon đả nghe đã thấy  ngọt lịm “xoài vườn nhà đấy em mua mở hàng đi chị bán rẻ cho” , làm cho khách xa không nỡ chối từ. Nhìn  khăn piêu địu con nhỏ  trên lưng, cắm cúi cấy trên ruộng bùn  đã cày nhuyễn, lại thấy dâng lên một cảm xúc thật khó tả, hình như đằng sau tấm thêu lộng lẫy của khăn piêu  là  vẻ đẹp giản dị  của đời thường nhưng  không dễ gì  nắm bắt, để cho tôi có cảm giác  mình mắc  nợ khăn piêu.    
  Tôi nghĩ cuộc sống thực luôn có nhiều cái bất ngờ chờ đợi người viết, và Tây Bắc thật sự chắc không chỉ có  ở thành phố, chả thế mà Tây ba lô đến Sa Pa, Mai Châu, Mộc Châu chỉ nằng nặc tìm đến  các bản mường. Buổi tối Điện Biên tuy  lạnh  nhưng vẫn không ngăn được ý định đi bản để tìm cho ra một khăn piêu. Chọn bản Mé vì là bản gần nhất, chỉ cách thành phố khoảng 12 km. Thấy tiếc hùi hụi vì tắc xi như bay qua cánh đồng mường Thanh mà không  được nhìn thấy cánh đồng, chỉ thầy ánh đèn thành phố xa tít  như sao trên  sông Ngân Hà, tạo thành đường viền bao bọc cánh đồng, để cố hình dung ra vựa lúa ngọt thơm của Tây Bắc. Mắt  mải dõi ra cánh đồng tối đen, nên  tai chỉ  lõm bõm nghe anh tài xế tăc xi kể sự tích cánh đồng Mường Thanh. Là phải gọi mường Then mới đúng, cánh đồng của  Trời tạo ra để xin lỗi vì đã làm cho nhiều trẻ con phải  chết. Lúa Mương Then ngọt vì có  thịt xương trẻ con. Câu chuyện làm gai lạnh sống lưng và làm  rùng mình cả đêm tối, nhưng may được  an ủi vì cái kết ngọt ngào. Chỉ biết rằng giờ đây dân Tây Bắc đã có một cánh đồng Trời ngọt ngào.
    Tôi háo hức đồng ý đi  Bản Mé luôn theo lời khởi xướng của anh lái xe tắc xi,  bởi cái tên  nghe đã  hấp dẫn,  tiếng Thái có  nghĩa là nở ra, bung ra,  nên chắc cái bản này sẽ  như  bằng chứng sinh động của cuộc sống đang sinh sôi nảy nở. Cứ ngầm mong như vậy, nhưng không ngờ  đón chúng tôi là một câu chuyện không vui. Gái bản Mé mang khuôn mặt phần hồng  măng tơ,  tươi xinh  như hoa hậu, vừa  có 22 mùa xuân,  có con lớn sáu tuổi và con nhỏ bảy  tháng và chồng vừa chết vì  bị tai nạn. Lòng trắc ẩn  cho hoàn cảnh  éo le  nhói lên mà đành im lặng, vì mọi  lời nói lúc này đều  không có giá trị. Muốn chia sẻ mà lời cứ  nghẹn lại khi hình dung bé gái 15 tuổi làm cô dâu.  Nhưng rồi lại  ngỡ ngàng vì  nụ cười đón khách vẫn  tươi roi rói, và chén rượu ngô thơm nồng như giấu nỗi buồn vào trong tim , giầu nỗi lo mưu sinh xuống đáy chén rượu. Sau một hồi rót và mời,  má dường như  hồng  hơn và ánh nhìn vui tươi  hơn, khăn piêu khoe xấp khăn vừa mới thêu, làm chúng tôi hào hứng chuyển chủ đề. Nhà thơ dân tộc Thái của chúng tôi mở băng ngoại ngữ thứ ba  ra líu lo với khăn piêu, còn khăn piêu  cười tươi như hoa và dịu dàng lắc đầu “ Không bán đâu, cũng không tặng được, để cho em gái còn đi  lấy chồng mà. Cần nhiếu lắm đấy, cho mẹ chồng và bà nội , bà ngoại,   cô,  dì, bác, thím bên họ nhà chồng mà, vẫn chưa đủ đâu. ”. Sau này,  nhà thơ rỉ tai tôi, nếu khăn piêu í  mà  bán thì  bao  tiền cũng  mua. Tôi cùng chung ý nghĩ như nhà thơ, vì đâu  phải mua tấm khăn, mà  mua một bài thơ về sức bật kỳ diệu của mùa xuân. Rời bản Mé,  tôi  mang theo hình ảnh hai chị em khăn piêu tươi cười  vẫy tay tạm biệt trong ngõ nhỏ, mang  theo  câu chuyện về một cuộc sống buồn lặng lẽ  không có  ánh đèn rực rỡ của Điện Biên,  kèm theo niềm tin chắc chắn vào  tình yêu cuộc sồng.  Giờ đây, tôi  đã hiểu  dù mùa đông có khắc nghiệt như nào thì cuộc sống  vẫn sẽ  đâm chồi này lộc như quy luật của tạo hóa khi mùa xuân đến.   
     Tôi đã đầy cảm hứng muốn làm thơ khi bắt gặp một  khăn piêu  khác e lệ dịu dàng bên một thi sĩ  của đoàn chúng  tôi. Sau  phải căn vặn mãi thi sĩ mới khai báo  thật thà  rằng đã gặp và quen  từ mười năm trước, nghe rồi  chỉ kịp thốt lên ôi trời, nếu hồi đấy  đi thi chắc đoạt ngôi hoa hậu. Lại ôi trời lần  nữa vì thấy sức mạnh của thơ thật siêu đẳng, nhưng nói riêng chút  thì thơ của thi sĩ  cũng quyến rũ lắm cơ, nếu có làm xiêu đổ, làm rơi tấm khăn piêu nào thì tôi cũng không lấy  làm ngạc nhiên  lắm đâu.  Mà thôi, để khăn piêu  ấy  làm nàng thơ quyến rũ  cho thi sĩ  còn lấy vồn gợi cảm hứng thơ ca  . Mà  thơ ca đã là sự quyến rũ lắm lắm, thì bắng cảm nhận cá nhân, tôi dám khẳng định chiếc khăn piêu là bài thơ tuyệt vời của miền Tây Bắc này.  Lại nhủ thầm lần nữa, vì chỉ  qua Điện Biên với thời gian quá ngắn ngủi và ít ỏi, nên coi như tôi nợ thành phố biên cương này một  chiếc khăn piêu.  Đúng thế,  tôi nghĩ  sẽ ấp ủ đề tài về  chiếc khăn piêu này trong một dịp khác, khi được trở lại Điện Biên. Tôi đã  mãn nguyện vô cùng khi mua được một  chiếc khăn piêu có hoa văn rực rỡ được thêu tay rất cầu kỳ  từ cô gái Thái ở  khu di tích  Mường Phăng. Tôi yêu quý chiếc khăn piêu này, vì xuất xứ  của nó  từ  nơi mà bà con dân tộc ở  Điện Biên gọi một cách thân thương  là “rừng Đại Tướng”. Mãn nguyện vì  mang được chiếc khăn piêu về nhà, cảm giác  như thể mang được  cả sức  trẻ trung  tươi tắn và nét xinh đẹp  thiếu nữ của một thành phố nơi biên cương.  Lại miên man  nhớ là  nhà văn Tô Hoài khi từ biệt Tây Bắc , “ vợ chồng A Phủ” đã từng  vẫy tay lưu luyến” chéo lù! chéo lù” ( tiếng Mông có nghĩa là  trở lại, trở lại)  . Chiếc khăn piêu  đã ghi lời hẹn một ngày nào đó tôi được trở lại Điện Biên. 
     Chuyến đi Tây Bắc còn mang thêm nhiều hẹn hò dễ thương cùng mùa xuân. Nếu khởi đầu của hẹn hò là những gặp gỡ, và  bạn có thể có nhiều cuộc gặp gỡ trong đời, nhưng tôi dám đảm bảo là những cuộc gặp của dân văn chương vẫn mang cái gì đó khác biệt. Đây nhá, ví dụ bạn gặp một nhà  lãnh đạo  cấp huyện, ngay từ phút đầu đã đập vào mắt bởi ấn tượng về  sự  phong độ đạo mạo nhưng không kém phần trẻ trung. Cuộc gặp tuy không có nhiệt liệt chúc mừng, nhưng cũng nhiều vui mừng chào đón dài dằng dặc khiến cho cái dạ dày dễ thương của tôi sôi lên ùng ục, khi phải chờ đợi. Tất nhiên, liền sau lời chào đón thì  sau đó là phải nâng chén chúc mừng. Đã từng công tác nhiều năm ở miền núi, tôi biết rượu là một nét  văn hóa rất  riêng của  miền cao, nâng chén không cạn là không thật lòng, mà không thật lòng thì đồng bào không tin, và cầm chắc là việc dân vận sẽ thất bại.
   Tôi đã rất “ ngoại giao”   khi làm cái “ lễ nghi” chạm chén  bắt buộc này. Nhưng tôi đã phải thay đổi cảm xúc  khi vào cuộc, vì  rượu ngô núi đá với  hương thơm nồng nàn  đã dẫn dụ cho  văn thơ xuất hiện ngay trước mắt, khi trai Hmoong  giữ nguyên giọng  lơ lớ mộc mạc của bản mường. Rằng mình vui lắm khi được đón đoàn văn nghệ sĩ; rằng mình yêu thơ lắm đấy , đã làm gần trăm bài thơ để tán vợ nhá; rằng sau khi bắt được vợ rồi thì mình không làm thơ nữa nhưng vẫn yêu thơ lắm nhá; rồi vô tư ôm vai và giới thiệu bài thơ của mình đây này, trong khi  đó thì “ bài thơ” chỉ  mủm mỉm cười nụ  và sóng sánh ánh mắt. Uống đi nhá, phải là chén vợ chén chồng cơ nhá, làm cho cả mâm sóng sánh  ngả nghiêng một cách hốt hoảng. Vẫn  còn phải sóng sánh nghiêng ngả vì “ bài thơ” này là đại biểu quốc hội tỉnh Sơn La cơ đấy. Lại vẫn phải  sóng sánh ngả nghiêng vì trai Hmoong này đã từng là cựu sinh viên C500, là khắc tinh của tội phạm ma túy và cờ bạc ở  huyện Sông Mã, nơi mà thầy giáo  dạy tôi  hồi đại học  ( Thầy xung phong lên  dạy học  ở Sông Mã)  từng nói “ nếu Sơn La là cái hang thì huyện Sông Mã là cái hốc của cái hang”. Trai Hmoong dí dỏm, vì cán bộ đã  bị lộ -  là  tội phạm đã  biết mặt -  nên vừa  mới phải về làm Bí thư Huyện ủy đấy nhá. Chủ và khách cười sảng khoái, bên rượu ngô thơm nồng nàn  như con  suối thấm đẫm hương hoa mận , hoa đào,  hoa mơ  Tây Bắc.  Lại phải tự hỏi, nếu như  thơ ca không sinh ra  từ  đấy  thì  còn ở đâu?
     Tôi nghĩ  những tầng núi đá tai mèo ngàn đời rắn rỏi và  sắc nhọn, ôm ấp từng bụm đất cho cây ngô khẳng khiu ra bắp ngọt ngào, đọng thơm  vào chén rượu, dư  sức làm mềm lòng bất cứ ai đi qua Tây Bắc. Trưởng đoàn của chúng tôi nói đùa một cách  rất  thật lòng là “ mọi người cứ về đi, còn  tớ thì sẽ ở lại Yên Châu”,  thì  biết  là anh đã tìm ra cho mình một miếng đất màu mỡ để gieo trồng bắt  con chữ nảy mầm.  Thế là  từ biệt Yên Châu trong một ý tưởng gặp gỡ  hẹn hò cho trại viết, làm hào hứng cả người ở lại lẫn người ra đi. Thế là Yên Châu  mà  lại không yên trong niềm đợi  mong cho một chuyến  đi khác.
   Chuyến đi Tây Bắc của chúng tôi vào mùa xuân, nhưng lại không phải là du xuân. Nhận sự đón tiếp ấm áp của Hội văn học nghệ thuật tỉnh bạn mà  nỗi lo bài viết  cứ canh cánh bên lòng. Thôi thì cứ nhận đi những  tình cảm tràn trề thơm nồng như rượu ngô trong chén. Quan sát cuộc gặp với  Hội văn nghệ Điện Biên và Sơn La, dễ thấy người lãnh đạo văn nghệ rất khác với quan chức của chính quyền, cùng giống nhau ở dáng vẻ  gầy gò có nét hiền hậu  như anh giáo Thứ của nhà văn Nam Cao, thường trực nỗi lo bài vở. Cùng  là lối ứng xử thân mật, như gặp lại bạn  bè của thời học trò,  câu thứ nhất hỏi thăm cửa nhà, câu thứ hai đã là tác phẩm mới và  cũ như nào? đang quan tâm đề tài gì đấy ? viết cho báo nhà tớ nhá? À, có cuộc thi viết về Điện Biên đấy, tham gia tích cực luôn nhá? Sau đợt thực tế  này thì về nhà nhớ gửi bài nhá;  Cứ ríu rít quên ăn. Cứ nồng nã quên rượu. Cứ vội vã nói như chả kịp nghe  để rồi thầy thời gian gặp gỡ nhanh như gió thoảng, như chưa nói được gì với nhau.
     Đường lên Tây Bắc núi trập trùng mờ xa, câu hát thuộc  nằm lòng để thấy  nơi đến thật là cách trở  xa xôi, cứ tưởng là đi sẽ lâu lắm mới tới ,  thế mà  khi trở về tôi mang cảm giác chưa nhìn rõ mặt Tây Bắc. Thôi, đành để  câu trả lời nằm  trong chuyến đi tiếp theo, hy vọng sẽ được  nhìn thấy Tây Bắc theo cách riêng.

Điện Biên 26 /2/2014.

Thứ Hai, 20 tháng 1, 2014

NGƯỜI ĐẸP VÌ LỤA



                                                 Tản văn: PHAN MAI HƯƠNG
 Ngay từ hồi mới biết mặt chữ, đã thuộc lòng câu “ người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân”.  Còn nhớ rõ là đọc câu tục ngữ ấy trong bài tập đọc của sách giáo khoa lớp Ba. Nhưng thực ra  chỉ nhớ về đằng trước thôi, vì gợi ra một hình ảnh đẹp rạng rỡ đầy cuốn hút, đủ tô vẽ cho một ước mơ, đủ nhen nhóm niềm khát khao bé bỏng theo đuổi suốt những năm tháng ấu thơ .
 Đấy là những  áo xiêm váy vóc lụa là  rực rỡ mà một năm đôi lần, hiếm hoi lắm thì đám trẻ con lứa 6x,7x chúng tôi mới  có dịp nhìn thấy trên sân khấu, với những  “ Quan Âm Thị Kính”, “ Ai mua hành tôi”, “ Xúy Vân Giả Dại” của đoàn chèo Hà Tây, đoàn cải lương Chuông Vàng, nhà hát tuồng Trung Ương, khi họ  về tỉnh miền núi lưu diễn, mà  nhiều nhất chỉ  là ba đêm.
Lũ trẻ con ngày ấy  như là chìm trong mê  mẩn khi  ngắm những cô diễn viên đẹp như tiên sa, trong những áo váy  lụa là với  những tầng sắc màu rực rỡ như những lớp cánh bảy màu của con cào cào mỗi khi xòe cánh bay. Tâm hồn thơ ngây trẻ con mải miết mê tơi đi theo nàng Thị Mầu tung tẩy trên sân chùa. Lẽ dĩ nhiên là chả đứa nào  thích  nàng Thị Kính mấy đâu,  vì  lúc nào cũng thầy  nàng ấy chỉ khoác một  bộ nâu sồng tối om om. Nhưng cũng  thầm cảm thấy thương và ghen hộ nàng  Thị Kính xinh  là thế mà  không được mặc váy áo đẹp như nàng Thị Màu. Nhưng có một  điều chắc chắn là sau những buổi xem diễn kịch trong “ nhà hát” đất nện ở sân vận động, thì  tâm hồn được thỏa thuê bay bổng trong những giấc mơ trẻ thơ.  Nào là mơ  được như nàng Thị Màu xiêm áo lượt là. Rồi  mơ được như là  nàng Xúy Vân có hoa rực rỡ cài đầu trong ngày cô dâu vu quy. Rồi  mơ được như người vợ xinh xắn, lam làm của  anh nông dân bỗng dưng thành  hoàng hậu, có  kẻ hầu người hạ, và  xống áo xênh xang. Ôi! Những giấc mơ đi qua suốt thời ấu thơ, như nhắc nhở một thời gian khó, và chạm đến hiện tại vẫn còn nhiều nỗi âu lo.
Dân gian có câu câu cửa miệng  “ cơm áo gạo tiền”, và mới thấy  nối lo  “áo” chỉ đứng sau có nỗi lo “cơm” thôi. Phải chăng ở một đất nước nông nghiệp, thì nỗi lo cái ăn và cái mặc luôn đè nặng lên kiếp người ? Cuộc sống vốn là vậy, ăn no mặc ấm luôn là tiêu chí đầu tiên  để phấn đấu, sau đó  mới đến ăn ngon mặc đẹp. Nhưng chả biết sao, trong trí óc non nớt ngây thơ của cô bé con thuở ấy thì chỉ nghĩ đến “ người đẹp vì lụa…” mà thôi. Năm tháng trôi nhanh như chớp mắt,  nhưng đời người vẫn không nguôi vơi cạn giấc mơ lụa là.
Phải nói là giấc mơ lụa là đã găm sâu vào trí nhớ đi theo suốt tháng năm của đời người để không nguôi nơi chốn của bậc sinh thành. Có một  cô bé thành phố chỉ mong có dịp nghỉ học để háo hức  về quê, để được nhìn thấy  các bác gái, các dì, các chị con nhà bác, mặc váy áo thướt tha nom rõ đẹp.  Cô bé thấy ở thành phố chỉ có em bé mới mặc váy, nếu lớn hơn chút mà vẫn diện trang phục váy thì bị coi là “ trẻ con”.
Nhưng ở quê thì khác hẳn luôn. Hình ảnh   bộ váy Mường đen nhánh thướt tha cùng chiếc cạp váy thêu chỉ màu rực rỡ luôn là chiếc cầu vồng kỳ ảo nối liền những hoài niệm thân thương.  Cô bé con như bị  mê đi khi  ngắm những  chiếc cạp váy với những sắc màu nổi bần bật, được thêu  bằng tay với những họa tiết tỉ mỉ cầu kỳ, như  đang bay tung tăng trên vầng ngực thanh tân của các chị con nhà bác . Và nàng hoa hậu đầu tiên xuất hiện trong tâm hồn bé thơ lại không ai khác chính là nhân vật  Nàng Ún trong  cuốn tiểu thuyết “ Hoa hậu xứ Mường” của nhà văn Phượng Vũ. Vì trí tưởng tượng trẻ thơ thật dễ để vẽ ra hình ảnh nàng Ún nhà Lang xinh tươi và  vô cùng cầu kì,  đang  kén chọn từng chiếc cạp váy.
 Này là  cạp váy thêu hình  Rồng quý phái đài các, như làm đẹp hơn bội phần cho nàng  công chúa mày ngài mắt phượng đang e ấp đợi chờ ý trung nhân nơi gác tía lầu xanh.
Này là hình thêu đàn Hươu rất dễ để hình dung ra nét tung tăng trẻ trung, mơn mởn của hoa cỏ mùa xuân, tươi tắn như tâm hồn  lãng đãng mộng mơ,  dễ quên dễ nhớ của  nàng sơn nữ đang yêu.
Này là  hình thêu đàn chim Lạc đang sải cánh miết mải bay về phương trời xa xăm nào đó, như tâm hồn thiếu nữ  đang cảm thấy sự chật chội, đang ngóng chờ những chuyến đi, như cháy niềm mong  được thấy bao nhiêu điều kỳ diệu còn khuất lấp sau những dãy núi xa xanh.
Này là hình thêu Hoa Lá tự do tung tấy, không theo một khuôn mẫu nào. Dường như  có tất cả những  hoa lá  đang vươn cao và muốn bay xa; có  suối sông với  những mơn trớn dịu dàng lẫn  những  ào ạt thác lũ; có núi thẳm lẫn  rừng xanh đanng cất lên hơi thở thì thầm đầy quyến rũ mải mê. Tất cả đều như đang hội tụ về nơi mơn mởn đào nguyên.
Này là hình thêu đàn Cá thoải mái vui tươi bơi lượn trong dòng nước xanh mát rượi, và  nước kia mềm mại hơn cả dải lụa đang dâng lên, dâng lên  để che khuất dần nụ hoa thanh tân mỗi khi Nàng Ún tắm suối theo kiểu sơn nữ là  nhẹ nhàng cuốn váy đến đâu thì thong thả buông mình chìm dần, chìm dần trong làn nước xanh đến đó. Dường như đến bây giờ, khi nhớ lại những khoảnh khắc ấy, cô bé ngày xưa  vẫn còn nguyên cảm giác xấu hổ làm sao khi đi tắm suối cùng các chị con nhà bác  mà cứ phải  nhúng nguyên cả bộ quần áo mặc trên người xuống suối, chả giống như  các chị gì cả.  Lúc ấy, trong tâm trạng cô bé con, nỗi ước mong cháy bỏng có được bộ váy Mường mới mãnh liệt làm sao? Và  phải thừa nhận rằng nỗi ước mong ấy đã, và có lẽ sẽ đeo theo ám ảnh  suốt thời gian rộng dài của đời người. Lắm khi tự cười một mình vì cô bé ngày xưa ấy sắp trở  thành bà nội bà ngoại rồi mà vẫn còn nguyên niềm mong bé bỏng trẻ thơ.
 Cô bé ấy có thể ngồi hàng buổi không biết chán, chỉ để   lục lọi đống váy áo của Bác Dâu để  tỉ mẩn xem từng hình thêu trên cạp váy với  những con thú đang nhảy múa, những con  chim  bay lượn, để mà mơ mộng đến một chân trời xa xăm, để bay nhảy thỏa thuê trong những khát khao. Sau này, khi đã nhớn nhao hơn một  chút mới hỏi mẹ về những kỳ diệu nắm sau những  hình thêu trên cạp váy.
Cứ theo như lời kể của mẹ thì thứ quan  trọng và  được điểm  trang cầu kỳ nhất trên bộ váy Mường chính là tấm cạp váy. Để có một tấm cạp váy phải bỏ ra rất nhiều công sức. Đầu tiên là phát nương trồng bông. Nhưng mảnh nương dể trồng bông thường là những mảnh đất đồi có diện tích không lớn lắm, vì những nương rộng lớn thì dùng để trồng lúa, ngô và cây hoa màu khác. Vị trí nương bông thường là giáp đường đi, len trong khe suối, chen trong vườn cây bương. Nương bông có thể ở rất gần nhà, nhưng có khi lại ở xa hàng giờ đi đường. Tạm hiểu trồng cây bông như là cách tận dụng đất cho khỏi lãng phí.
Nương  bông còn như một biểu hiện về sự chăm chỉ lam làm của những người con gái trong gia đình, đồng thời lại như một cách để các cô gái có điều kiện cùng nhau chuyện trò đủ thứ chuyện trên trời dưới đất một cách  dễ dàng.Thời gian chăm sóc cho nương bông là khi việc đồng áng cấy hái đã xong, hạt lúa hạt ngô cũng đã được gieo nằm  yên vị trên nương xa. Mẹ thích thú nhắc lại kỷ niệm một lần  đi làm cỏ bông vào kỳ sau Tết Nguyên Đán, hí hửng mang cơm nắm và thịt lợn còn lại từ hồi Tết cùng ăn trưa ( chứ bình thường chỉ có muối vừng thôi), mà không biết cô bạn bị dị ứng với thịt lợn, chỉ trong nháy mắt cả mặt mũi tay chân cô bạn bị đỏ ửng, sưng tấy lên làm cho  mẹ sợ khiếp vía vì lo lắng. Lại có lần đi hái bông vào mùa hè, mẹ bị ong vàng  đốt, sưng lên từng cục trên trán, trên đầu. Loại ong này  có cái bụng thon, thắt eo lưng cong veo và khi đốt kẻ thù thì phần đuôi chổng vộc nhọn hoắt. Loài ong này làm tổ bằng bùn trộn phân trâu, thường chỉ  to bằng cái bát ăn cơm, khuất lấp sau những bụi cây rối ren, nên rất khó nhìn thấy. Mình cũng đã từng bị ong vàng đốt nên đã  biết cảm giác đau tê  buốt như nào  rồi.
 Mẹ nói chăm sóc nương bông và hái bông vẫn là việc không thể thiếu trong công việc đồng áng nương rấy. Và sự nết na của người con gái thường được nhìn qua việc trồng và thu hoạch bông, se sợi dệt vải. Mẹ kể  đám con gái ở làng thường chung nhau trồng một nương bông, cùng nhau đi làm cỏ và hái bông; cùng nhau tập trung ở nhà nào đó để  se sợi, nhuộm chỉ màu, trong đó việc nhuộm chỉ để dệt cạp váy là kỳ công nhất. Chỉ  màu  thường được nhuộm bằng lá cây rừng pha trộn với phẩm màu thế nào đó, là bí quyết riêng của bà ngoại, mà  mẹ vẫn chưa kịp học. Chỉ có điều từng sắc màu mảnh mai làm nên những bức tranh rực rỡ trên mỗi tấm cạp váy luôn là thứ hấp dẫn diệu kỳ, nên con gái lại càng muốn vạch ra từng sợi chỉ để mong  tìm tòi cái bí ẩn nằm trong tấm thổ cẩm.
 Ngày cưới của cô gái Mường, cái sự  giàu hay nghèo không quan trọng bằng việc các bậc trưởng lão  “ săm soi” xem cô gái mang về nhà chồng bao nhiêu chăn gối tự dệt? Vì đó  như là một bằng chứng  xác thực nhất cho cái nết na đảm đang, vén khéo giỏi giang, mà bà mối đã dày công giới thiệu với nhà trai từ trước  đám cưới. Con gái thích thú trêu mẹ, lấy chồng thành phố là thoát nạn  may chăn  dệt gối còn gì?  Mẹ cốc đầu con gái  mắng yêu lười kim chỉ như này, sau có gia đình, áo chồng con rách ai vá cho?
Hồi nhỏ, công việc ở nhà của  mẹ là xay giã gạo.  Con gái cứ xoắn lên thắc mắc sao mẹ không làm công việc  dệt vải, mà cứ phải là bác Ba ( chị gái của mẹ) dệt? chẳng nhẽ bác í dệt đẹp còn mẹ thì không à? Mà sao  bác Ba cũng chỉ dệt vải khi đã làm hết mọi việc vặt trong nhà? Thế cái việc dệt vải may váy áo đẹp lại không quan trọng à? Trong hình dung ngây thơ của con gái thì mẹ nhất định phải là  cô tiên mang nhiều phép màu, vừa xinh đẹp lại vừa chăm chỉ giỏi giang. Và con gái lại càng nhất định muốn người làm ra những tấm cạp váy rực rỡ sắc màu kia lại phải chính là mẹ cơ. Để con gái còn thêu dệt cho  hoàn thiện câu chuyện cổ tích ngày xưa về chiếc cạp váy thổ cẩm diệu kỳ, làm mê mẩn bao nhiêu lòng yêu cái Đẹp, mà  trong thế giới thời trang ngày nay có tìm đỏ mắt cũng không thể  có được.
 Thì vẫn là chuyện về chiếc cạp váy mà cô  bé ngày xưa  mê đắm, mà  thời gian đời người đi gần  hết một phần hai cái trăm tuổi vẫn không vơi bớt niềm yêu. Bất chợt, chị bạn thân cùng cơ quan rủ rỉ chúng mình may váy Mường mặc nha.  Vài tuần sau, bỗng dưng  chị mang đến chiếc cạp váy nói tặng em đấy, mà vừa nhìn thấy nó  mình đã như  bị thôi miên.
Chị bạn nói là cụ ngoại của chị, gần  tuổi 80 rồi,  vốn được người làng coi như  một nghệ nhân dệt thổ cẩm, đã tự tay se sợi nhuộm chỉ và dệt nên tấm cạp váy này. Từng hoa văn li ti sắc nét nổi lên mịn màng như vân gỗ. Nhìn vào đấy như thấy cả một rừng hoa lá gió mây đang bay lượn. Sự pha trộn màu sắc tách bạch mà rành rẽ, mà vẫn  mang  nét đẹp hài hòa đến ngỡ ngàng. Những sắc màu đen,  vàng, hồng,  trắng, đỏ tươi và  đỏ rượu vang, xanh lục bảo và  xanh na vy, đan xen với nhau trong từng nét hoa văn tinh xảo. Trên tay  nâng  tấm cạp váy và  hình dung ra cụ bà 80 lụm cụm bên khung cửi đạp bằng chân, nhưng đôi mắt còn  tinh anh, cặm cụi chọn chỉ và lựa màu,  thoăn thoắt luồn thoi, tỉ mẩn từng sợi tơ mũi thêu. Chỉ nghĩ thế thôi mà niềm ngưỡng mộ liền đi kèm cảm giác cay cay nơi sống mũi. Lại nghĩ  cụ bà Nghệ Nhân rồi sẽ đến tuổi Trời, rồi  đây ai sẽ lưu giữ được nghệ nhân ?  
Mẹ đã từng đeo kính lão,  ngồi hàng giờ đề ngắm từng đường thêu của bộ cạp váy này, và thốt lên, cả đời  mẹ chưa bao giờ có được bộ váy Mường mà có cái cạp váy đẹp như thế. Mẹ  còn xuýt xoa tấm  “ cao váy” này dệt bằng tay,  đẹp quá cơ là loại hiếm hoi lắm đấy, trong bộ cạp váy thì tấm “ cao váy” là giá trị vì dệt khó lắm, nên thường được bán rất đắt tiền. Nếu ai đã mặc váy Mường thì mới biết giá trị của tấm “ cao váy”, đó là phần các đường dệt hoa văn đều theo chiều thẳng đứng tạo cảm giác cho  thị giác về sự cao ráo,  thanh thoát, khi nằm trong tổng thể bộ váy thì đây là phần ôm khít vào eo lưng thiếu nữ làm tăng nét  thon thả, nâng vầng ngực thanh tân,  đẩy dáng người cao lên bội phần. Mẹ nói ngày xưa, bà Ngoại chỉ sắm cho “cạp váy” thôi, mà không có đủ tiền để mua tấm “cao váy” đâu, nên hay thay thế bằng mảnh vải hoa có màu sắc rực rỡ, nhưng như thế thì không đẹp tẹo nào.
Bây giờ, mỗi khi mang bộ váy ra mặc lại nghĩ đến cụ bà Nghệ Nhân,  người đã dệt nên bộ cạp váy tuyệt vời. Chợt nghĩ  con người ta sẽ không bao giờ chết, nếu như đã sống xứng đáng với niềm yêu của mình, và  khi ấy cái chết chỉ là sự chuyển từ cõi này sang cõi khác mà thôi. Vậy mà 5 năm sau cụ bà Nghệ Nhân đã  nhẹ nhàng làm cuộc viễn du  về  Trời một cách thanh thản. Đoán chắc người như cụ khi về Trời thì sẽ được  bay bay trên những tấm thổ cẩm mà cụ đã tự tay thêu dệt nên những lá thắm hoa tươi. Thấy báo chí và các nhà nghiên cứu văn hóa nói hay lắm, rằng nghệ nhân là những pho văn hóa sống. Nhưng đã mấy ai biết đến  nghệ nhân sống bình  lặng, thậm chí là lay lắt  ở nhưng  nơi cách trở xa xôi ? Lại nghĩ đến trường hợp có  cụ  đã được phong nghệ nhân ngành ca trù, nhưng chỉ khi cụ mất thì chuyện bảo tồn giọng ca bất hủ mới được nghĩ đến? còn cụ bà Nghệ Nhân này  dù chỉ được vinh danh ở làng cũng là điều vinh hạnh cho cụ lắm rồi chăng? 
 Nếu nói “ người đẹp vì lụa…” thì “ hoa hậu” đẹp nhất mà con bé từng ngưỡng mộ  chính là Dì Út của nó. Bởi Dì chỉ mặc thứ trang phục duy nhất là váy Mường. Nó say mê ngắm dáng người  cao cao tròn lẳn nuột nà dấu trong bộ  váy đen nhánh lả lướt xuống đến mắt cá chân, với những hoa văn rực rỡ nơi cạp váy, với thắt lưng nhiều màu sắc – thường là 2 màu, với bộ xà tích  bằng bạc sáng loáng điệu đà. Cả đến cái khăn trắng muốt nhỏ nhắn mà  Dì nó  thắt trên đầu một cách như hờ hững mà  con bé cũng thấy sao đáng yêu thế. Con bé như mê đắm nhìn theo những bước chân duyên dáng của Dì, mà  mỗi khi bước đều lộ ra gót chân mịn nhẵn, không hề bị nứt nẻ, không xấu xí như gót chân của bác dâu, và vì thế  càng  nỗi bật dưới cái viền gấu váy màu đỏ. Trả lời thắc mắc của con gái, mẹ nói váy Mường chỉ dài chạm mắt cá chân thôi để cho còn khoe gót chân  và  viền gấu váy thường là màu đỏ để cho vừa đẹp một cách quyến rũ. Thế thì còn bé thấy Dì Út của nó vừa đẹp vừa quyễn rũ nhất đời luôn. Con bé yêu Dì Út  lăm lắm bởi dì đẹp đã đành, nhưng sau này khi đủ lớn, con bé hiểu niềm đam mê về bộ  váy Mường được khởi nguồn từ người thân yêu. Chỉ chứng ấy thôi cũng đủ nuôi khát khao gìn giữ nét truyền thống trong bộ váy Mường.
Mỗi khi lục lọi đống váy áo của bác dâu, con bé lại thắc mắc sao váy áo đẹp như này mà cất đi? Con bé nhiều lần năn nỉ Bác Dâu “ mặc cho cháu xem nào”. Trong thâm tâm con bé  không thể chịu được ý nghĩ của người già, có váy áo đẹp để dành lúc chết mới mặc. Đấy là hệ quả của một cuộc sống trăm bề thiếu thốn, sống trong toan lo, nên người Việt chỉ có ý nghĩ làm ăn tích cóp dành cho “ sau này”.
Đến khi Bác Dâu về Trời, con bé đã cùng các chị mặc cho Bác Dâu mấy bộ váy áo liền, bộ nào cũng đẹp tuyệt vời và còn như thơm mùi bông. Mẹ lại nói trong nhà mình, chỉ có  Bác Dâu có những bộ váy đẹp, vì Bác Cả  rất chiều chuộng và  không tiếc tiền mua sắm  cho Bác Dâu những bộ váy  áo đẹp nhất. Giờ đây, thỉnh thoảng nhắc lại chuyện đã qua, mẹ lại tiếc giá như cứ giữ lại một bộ váy của Bác Dâu để  làm kỷ niệm?
Biết là  cứ khắc khoải về một niềm nuối tiếc thế thôi, mà đành chịu để mất đi, như gia đình tôi đã khồng còn bộ váy Mường nào của những người đã khuất? Thời gian trôi không chờ đợi ai, chỉ còn hoài niệm là thuộc về quá khứ. Nhưng hoài niệm có kết nối được với tương lai hay không lại phụ thuộc vào thế hệ hiện tại có niềm yêu với những giá trị truyền thống hay không ? Cơ mà phải nói thêm là hiện tại có đủ sức để  mà yêu truyền thống hay không?

Viết xong 1/8/2013.

Thứ Hai, 23 tháng 9, 2013

NHÀ GÁC, CƠM ĐỒ….



                                                                             Tản văn: Phan Thị Mai Hương
    Mẹ kể rằng khi  sinh được 1 tháng  tuổi tôi đã về quê ngoại . Đến  khi bắt đầu  biết nói thì cái  câu “ cơm đồ, nhà gác, nước vác, lợn thui” được phát âm bằng tiếng Mường,  đã đóng đinh vào trí nhớ. Từ đấy  cơm đồ nhà gác đã  đi theo suốt tuổi thơ  tôi, day dứt  đi theo cả nửa cuộc đời, như nhắc nhở món nợ với quá khứ.
   Trí nhớ non nớt thuở ấu thơ dường như không phai mờ hình ảnh về những  nụ cười vui vẻ đầy  trêu chọc của các bác, các dì, các chị con nhà bác, khi nhìn bộ mặt “ngẩn tò te” của con bé con là tôi thuở ấy, khi nghe các chị nói câu thành ngữ trên bằng tiếng Mường.  Thêm nữa là  lời nhận xét chắc  nịch của bác Cả  rằng cái con bé này  chắc rồi sẽ mất gốc nhà Mường thôi, và bác cũng nói câu đấy  bằng  tiếng Mường, nên các chị lại càng được thể cười rũ rượi trong cái lúng túng đầy ngượng ngập của tôi. Đấy, tôi cũng chả hiểu sao, cả nhà tôi gồm bố mẹ và 5 chị em, thì chỉ có mỗi tôi là không biết nói tiếng Mường. Tuy mù tịt cái  “môn nói” nhưng  tôi lại rất giỏi cái “ môn nghe” , nên đấy là lý do  rõ ràng nhất để chứng minh cho cả họ hàng là  tôi đâu phải đứa bị “ mất gốc nhà Mường”.
 Bây giờ không có ai phải lo thiếu đói, không phải  sống trong cảnh có  bữa nay phải  nghĩ đến kiếm bữa mai, và quả thật là muốn ăn cái gì cũng có thể mua. Nhưng trong tôi vẫn thèm ơi là thèm, muốn được thấy lại cảnh bác Cả xòe hai bàn tay to chắc nịch có những ngón nổi gân rắn rỏi, nhấc cao cái cuốp gỗ đã  lên nước thời gian nâu bóng, dốc chổng ngược lên, để cho cả một ụ xôi trắng tinh khôi trôi tỏa ra tràn  đầy cái viên, giống như cái mủng của người Kinh nhưng đáy nông hơn và miệng rộng hơn, được đan bằng cật tre, mà  thời gian in dấu bằng màu vàng ươm và lên nước bóng loáng. Những hạt xôi nếp căng bóng, vì còn nóng nên chưa dính vào nhau, lặng lẽ và kiêu hãnh  ngả dần xuống rồi nằm cạnh nhau một cách có trật tự, nom đẹp đẽ mọng mẩy và nõn nà.
 Thèm lắm í, được hít hà làn khói thơm bốc lên mù mịt, che lấp cả viên,  hương thơm tỏa  lan ra khắp ngôi nhà sàn thênh thang. Hương vị của  xôi đồ trong cuốp gỗ như giữ nguyên và tinh lọc được mùi thơm của đất, của trời,  của nắng, của gió, của lá , của hoa.  Dường như những gì  tinh túy nhất của thiên nhiên đều  được kết đọng trong làn khói thơm đặc biệt  quyến rũ ấy. Mà chỉ có thể hình dung là mùi  hương thanh thoảng nhẹ nhõm của hoa lúa khi cây lúa bắt đầu uốn cong mình như dấu hỏi. Là hương thơm đậm nồng phả ra từng luồng ấm áp của bông lúa vừa cắt từ ruộng về. Là hương thơm ngào ngạt của  hạt gạo khi mới tách mình ra khỏi vỏ trấu. Là hương thơm nồng nã mà ngọt ngào của  nồi cơm gạo mới  khi  vừa  chín tới .  Tôi  thầm cảm ơn bố khi đặt tên con gái mang ý nghĩa là hương của  hoa lúa, và trong sâu thẳm luôn trỗi dậy nỗi thèm mùi hương ngạt ngào của đầm ấm yêu thương xưa ấy lắm, mà không biết mua ở đâu?
 Đôi khi thì trong cuốp không phải là xôi nếp, mà là những gói lá chuối, mà bí mật của nó nằm sau tấm lá  đã chuyển từ màu xanh tươi sang  màu xanh thẫm, hơi đen. Tôi háo hức đợi bác Cả lật giở  từng tấm lá. Khi thì là cả một cuốp  đầy rau xanh tươi với hàng chục loại lá hái  ngoài đồng, trong vườn, trên bờ rào, ven chân hàng dậu thưa. Khi thì là những con cá suối có cái  lưng xanh đen, phưỡn cái bụng trứng trắng núng nính, nằm  giữa lớp măng chua trắng xám, ngổn ngang. Có khi lại là một con chim gì đó mà tôi không biết tên, nhưng không dám  hỏi vì biết là lại phải nghe câu trả lời bằng tiếng Mường. Tuy không nhớ nổi tên gọi của con chim, nhưng  vẫn nhõng nhẽo đòi bác miêu tả lại lông của  nó màu gì, khi nó vẫn còn sống í,  và lập tức  sắc  màu ấy được gắn ngay vào bộ nhớ.  So với việc được ăn một thức ngon, thì tuổi thơ dường như lại không háo hức bằng việc hình dung loài chim nào cũng là  Phượng Hoàng rực rỡ mang túi ba gang đang sải cánh  bay về nơi biển khơi xa, nơi lấp lánh với nhiều vàng bạc châu báu lung linh, để đến  bây giờ ký ức nào cũng xa vời vợi như năm tháng bay qua đời người.
Không chỉ riêng tôi đam mê quê ngoại, mà cả năm chị em tôi đều chung niềm thích thú ấy. Lý do cũng đơn giản thôi. Về đến quê là được bỏ dép và  trèo lên nhà sàn, chạy tung tăng khắp ngôi nhà sàn “ dài như một tiếng chiêng” như sau này đọc trong trường ca Đam San, háo hức  chạy đến mỏi cả đôi chân bé thơ . Tôi nhớ từng cái vân gỗ loang loang như vệt khói trên cây cột bóng loáng, đủ cho vòng tay ôm của thời tuổi nhỏ. Tôi thuộc từng cái mắt gỗ to và nhỏ trên những tấm gỗ rộng lót mặt sàn rộng thênh thanh, làm chân chạy của con bé thành phố đôi khi phải dừng lại rón rén ngắm nhìn. Tôi phân biệt được cái lỗ thủng nào là do con  mọt cần mẫn  gặm cót két suốt ngày đêm, cái lỗ thủng nào là do nứt vỡ, và cái lỗ thủng nào là do bác dâu khoét ra để nhổ nước cốt trầu.
Tính  bác Cả  rất cẩn thận, tấm gỗ sàn nào bị thủng to là thay ngay. Nhưng bác lại rất chiều bác dâu, nên riêng tấm gỗ khoét lỗ ấy thì không bao giờ thay. Bác dâu, vốn rất yêu chiều chị em tôi và riêng  mẹ thì coi bác dâu như thế thân của bà Ngoại, đã thân thiết chung sống với tấm ván khoét lỗ,  đã ngồi như gắn liền với cửa vóng nhà sàn để giã trầu, đến năm 85 tuổi thì về trời.  Để đến bây giờ, nhìn vào cái lỗ thủng trên tấm ván sàn, lại tưởng đâu như dáng hình xưa đang lụm cụm ngồi nhai trầu, chỉ là vừa đứng lên đi vào bếp mà thôi.
Tôi thích quẩn quanh bên chân bác dâu, vì xung quanh bác rất nhiều hộp đan bằng cật tre, mà cái nào cũng óng chuốt nuột nà như eo lưng ong thiếu nữ. Tất cả những thứ hộp và ớp này đều do bác Cả tự tay chuốt bằng cật tre đực và đan, mà sau này nghĩ lại tôi đồ rằng bác Cả đã  đan bằng tất cả tình yêu  kiểu “ lạt mềm buộc chặt”. Tôi tha hồ lục lọi các hộp ấy với niềm thích thú vô cùng, cái đựng trầu  cau, cái đựng thuốc lào, cái đựng kim chỉ, có cái đựng nguyên chỉ thêu,  có cái dùng đựng những mụn vá xanh đỏ, có cái lại để không. Tuổi trẻ con thật là ngộ khi chỉ  ước mong có những cái hộp đan ấy để chơi bày hàng. Bây giờ thì  vẫn nhất quyết bày một cái ớp trên bàn ăn đấy thôi, nhưng không dám đựng gì vì sợ mốc hỏng mất. Làm thế để đỡ nhớ tiếc rằng sao lại có những cái hộp, cái giỏ, cái ớp  xinh xắn nhường ấy? Rằng cái  thuở xa xưa ấy như  chỉ là có trong truyện cổ tích hoang đường, như cái hang đầy vàng bạc châu bàu nằm giữa biển khơi xa kia.
Thèm được duỗi dài chân,  gối đầu lên lòng bác dâu, hít hà mùi thơm thơm nồng hắc của  trầu và cau trong cái cối trầu bằng đồng có những hoa văn tinh xảo. Hầu như  lúc nào  bác dâu cũng ngoáy trầu phát ra tiếng kêu rin rít,  đôi khi  được bác nhờ làm hộ, rồi lại nói  giã trầu như thế là không ngon, con gái vụng thế thì sau này chỉ có ế chồng thôi!
Con dao cau nhỏ xíu sắc lẹm cùng bộ xà tích bạc trên cạp váy  dệt con  hươu của bác dâu, theo nhịp tay ngoáy trầu, lúc nào cũng phát ra âm thanh lanh canh như reo vui . Từng nghe mẹ nói bằng giọng hơi ghen tị rằng cái cối trầu cùng bộ xà tích này là của  một  nhà dòng dõi quan Lang,  bác Cả  đã mang  một trâu đã vực cày  đổi lấy để tặng vợ yêu. Rằng suốt thời con gái mẹ cũng chỉ ước mong một bộ xà tích như vậy, và mẹ không được bố yêu chiều đến mức ấy đâu. Mẹ cũng thở than đầy tiếc nuối  lắm lắm, khi mà  anh con bác Cả đã bán mất bộ xà tích  bằng bạc lõi ấy đi sau khi bác dâu vĩnh biệt cõi trần gian.
 Cũng đã từng thấy những cái đồ tương tự được bán nhiều ở các khu du lịch,  nhưng sao nom cứ như đồ giả, không thể nào đẹp bằng những thứ đã nhìn thấy trong tuổi thơ. Ôi có những thứ tưởng như đơn giản mà không bao giờ thấy lại. Thế mới biết ký ức khi đã thành máu thịt thì luôn thổn thức bằng những rung động của  riêng nó.
Còn bao nhiêu là niềm  yêu với  cái hành lang bao quanh nhà sàn. Những khi giỗ chạp thì cái mặt sàn rộng nhường nào cũng trở nên chật hẹp, thì cái hiên rộng ấy  đủ chỗ cho chị em tôi đùa nghịch mà không làm quẩn chân người lớn. Khi lớn thêm chút nữa, hiên nhà  lại là nơi tôi thập thò rình các chị đi chơi với bạn trai, là nơi tôi chẩu mỏ ngồi hóng hớt khi các chị cùng bạn bè cười đùa rúc rích với những chuyện dưới đất trên trời mà một  đứa bé con chả hiểu gì. Thời gian đời người được tính bằng năm tháng thì  cứ trôi  miên man, nhưng cái còn đọng lại trong tâm khảm là nơi hàng hiên ấm áp  như tình yêu thương trìu mến của một thời  trẻ dại mà nồng nàn.
Mỗi khi nằm dang rộng chân tay trên nhà sàn, tôi thường nhìn lên mái gianh được lợp dày đến cả gang tay con trẻ, mà vẫn lo lắng lỡ mưa đá thủng mái nhà, giống như nhà bố mẹ tôi ở thành phố bị mưa đá đập vỡ mái ngói, dột trong nhà như ngoài sân. Mẹ  thường  nhớ lần mưa bão sập cả  mái nhà, mẹ bị cây nứa nhọn xuyên vào đỉnh đầu, bác Cả chui vào bới  cái mái gianh đã sập xuống để lôi mẹ ra. Di chứng để lại là vết sẹo to đùng trên đầu mẹ mà  tôi hay di ngón tay lên đó. Từ lần sập mái nhà ấy, bác Cả mới lợp gianh mỏng đi cho đỡ nặng mái. Trời a! tôi nghĩ cắt được cỏ gianh để lợp đủ cái nhà sàn cũng là một kỳ công rồi. Lại còn lợp thật dày thêm nữa! thì tôi đã nói rồi, tính bác Cả rất cẩn thận và cầu toàn mà. Ngôi nhà sàn của bà Ngoại  ngày một đẹp hơn lên là do bàn tay chăm chút của bác Cả.
Đời thật trớ trêu, tuy không phải lo đói, nhưng người ta  vẫn mải miết kiếm tiền. Tôi vẫn có cảm giác đau như bị cắt vào ruột khi nhớ đến việc người anh con bác bán mất ngôi nhà sàn . Việc này khiến mẹ tôi giận anh đến nỗi rất lâu sau đó, và ít muốn về quê. Sau này anh nói lí do bán  nhà vì  không tìm được cỏ gianh lợp mái, vì  tấm ván mọt gặm không thể thay. Anh đã  không giữ lại ngôi nhà sàn đẹp nhất làng. Nhưng xung quanh hàng xóm lãng giềng nhà anh,  cũng dần mọc lên những ngôi nhà mái bằng 1 tầng, thậm chí là  2 tầng, nhìn ngôi nhà ấy được đặt trong không gian bờ rào, bụi tre và  cây trái ,  vườn ngô và  vườn rau, trên nền đất đỏ au của đồi núi,  nom thật trái mắt và  vô duyên như mặc trang phục com lê mà lại đi dép lê tổ ong. Cho nên  biết là có một thứ đã mất đi vĩnh viễn mà không gọi ra được bằng tên, không có tiền nào mua được.
Vì bán mất ngôi nhà sàn, nên không có lí do gì giữ lại cái máng đẽo bằng gỗ, đựng đầy nước, mà trong lòng máng phủ làn rêu xanh mịn như nhung. Cái gáo bằng ống nứa để úp ngang miệng máng, dùng để múc nước rửa chân trước khi trèo lên nhà. Cái máng đựng nước ấy thường  để ở gốc cây bưởi, mà  mỗi mùa ra hoa thơm ngát cả ngôi nhà. Hình như hương thơm thanh ngát của  hoa bưởi thấm xuống cả những phiến đá lót chân đã  mòn vẹt theo theo thời gian, để loang ra ôm choàng lấy ngôi nhà sàn, làm cho cứ hình dung  như là  vòng tay bao dung hiền từ của  ông bà Ngoại, bao bọc lũ cháu từ thành phố về  nghịch ngợm như quỷ con. Một thời gian sau, vẫn nom thấy cái máng cạn trơ đáy, khô nẻ, lớp rêu bám khô cong cớn như miếng bánh đa nướng và chuyển sang màu nâu xỉn. Chỉ đến khi cái máng bị phơi nắng mưa  nứt nẻ ra thì nó được chuyển vào bếp, chẻ ra thành củi đun.  Hình như lẩn khuất trong tán lá xanh còn có ánh mắt trách móc, dỗi hờn của người xưa. Nghĩ thế nên cứ thấy lòng đau nhoi nhói từ hoài niệm xa xôi.
Năm tháng dần trôi, anh em họ hàng chúng tôi, dù ở quê hay thành phố đều đã trưởng thành trong những ngôi nhà mái bằng bê tông cốt thép giống như những  hộp diêm. Lại hình dung chúng tôi giống  như  những con dế bị nhốt trong hộp diêm. Cho nên dù không nhạt phai lòng yêu, nhưng cũng không háo hức lắm khi hình dung về quê chỉ là sự di chuyển từ cái  “hộp diêm” ở thành phố về cái “hộp diêm” ở  làng quê mà thôi.
 Nhìn thấy trước tương lai là ngôi nhà sàn của người Mường sẽ dần mất tích, vì rừng không còn gỗ. Hàng ngày, từng đoàn người đi vào rừng lấy về mọi thứ mà không trả lại cho rừng cái gì. Nơi đã từng là rừng rậm xanh tươi nay được thay thế bằng những  dãy đồi trọc lốc như bát úp, nối nhau bất tận. Câu nói đùa “ phủ trọc đồi xanh” đúng luôn một trăm phần trăm  theo nghĩa đen chỉ vì  nỗi lo cho cái ăn cái mặc hàng ngày?
  Nghĩ  chắc mọi người sẽ cùng giống nhau ở chỗ  dù có  đi hết cuộc đời này cũng  không bao giờ nguôi cạn nỗi nhớ quê. Cho nên hình ảnh ngôi nhà sàn thênh thang, nắng gió ngập tràn, ở giữa vườn sum suê cây trái,  luôn nuôi trong tâm khảm một nỗi tiếc đến  khắc khoải.  Nhưng hơn hết là  nỗi lo cho  thế hệ sau chắc sẽ chỉ biết “ cơm đồ nhà gác….” qua hình ảnh có trong  sách nghiên cứu về một nền văn hóa đã mất?
                                        Viết xong 30/11/2012 – sửa chữa  18 / 4/ 2013



Thứ Ba, 1 tháng 1, 2013

VĂN HÓA VÀ CHỢ


                                                Tản văn : Phan Thị Mai Hương

     Ngày cuối cùng của năm 2012. Bạn hỏi sao không sopping, trả lời không thấy rét à, hết việc cơ quan chỉ muốn về nhà cho ấm áp. Bạn trách  hứa đi ngắm hoa sao không thấy bảo gì, chẳng lẽ hỏi lại thế gió mùa đông bắc không đến Mộc Châu à? Điện thoại nheo nhéo ới ơi đi cà phê Hà Nội kẻo sắp hết năm, rồi làu nhàu gì mà bận như chính khách, nhưng bạn làm sao hiểu lẽ nghề “ dậy hổ” ( dạy học) còn bận hơn ý.